Ly Hoàng Ly ngoặc đơn trong đêm

 

>> Ly Hoàng Ly từ Lô lô đến 0395A.ĐC

>> Ly Hoàng Ly dậy mùi trong đêm

>> Chầm chậm mở… thơ

Ngoặc đơn trong đêm

 

Đêm đem em vào đen

Đen đem em vào đêm

Những dấu ngoặc đơn

Gói những dòng chữ giải thích

Không thoát ra được

Những con chữ màu đen

Dấu ngoặc cũng màu đen

Em ngại ngần những ẩn chứa không còn trong vắt

Con tim nô nức đi theo tiếng hát của vùng đêm

Ở đó có bạn – tình – tưởng – tượng

Trong ngoặc đơn

Đêm đem đen vào em

Em đem đêm vào đen

Màu đen vẽ hình những cám dỗ tưởng tượng

Dậy mùi trong đêm

Mùi đen mùi đen mùi đen

Dậy mùi trong em

Mùi đêm mùi đêm mùi đêm

Dậy mùi giữa hai dấu ngoặc đơn

Khi giải thích đã là mất mát.

Đêm chảy lên trời

 

Kìa đêm chảy

Chảy lên trời

Buốt óc tôi

Vắt tóc lên mây

Tôi kéo đêm lại

Tóc rơi nghẹt sông

Kìa đêm chảy

Chảy lên trời

Máu tuột khỏi tim

Kìa đêm chảy

Chảy lên trời

Đáy sông khô cạn

Chiếc thìa nhôm đầy vết nứt

Tôi khát nước

Ngửa mặt lên trời hút đêm vào miệng

Lênh láng trời đen

Nhảy xuống lòng sông

Nằm chờ đêm ngập

Mặt trời nằm ốp la trên đất

Thiên thần mút lòng đỏ bằng đầu cánh mỏng

Thản nhiên nhìn

Đêm chảy

Chảy lên

Tôi…

Đêm là của chúng mình

Những đêm đèn sáng trưng

Trong căn phòng

Thức

Chiếc chăn bò trước ngực

Đi ngủ

Đi

Chiếc chăn màu xám trắng

Hỡi những kẻ ngủ đêm

Mang tình yêu

Đi ngủ

Thức được nữa không anh

Đem tình yêu

Rọi nắng

Đêm là của chúng mình

Tình yêu thắp sáng đêm

Đêm là của chúng mình

Sao nỡ ngủ

Hở anh

Em đành thức một mình

Những đêm đèn sáng trưng

Chiếc chăn bò trước ngực

Lạnh buốt

Đêm là của chúng mình…

Khúc đêm

 

Quay lưng lại là đêm

Quay lưng lại là đêm

Quay lưng lại là đêm

Quay lưng lại là đêm

Quay lưng lại là đêm

Chỉ thấy đêm khi tâm thấy đêm

Chỉ thấy đêm khi tâm thấy đêm

Chỉ thấy đêm khi tâm thấy đêm

Phía trước mặt là đêm

Phía trước mặt là đêm

Phía trước mặt là đêm

Phía trước mặt là đêm

Không muốn đêm cũng thấy đêm

Không muốn đêm cũng có đêm

Trên đầu là đêm

Dưới chân cũng là đêm

Có người nằm trong đêm

Có người ôm lấy đêm

Có người sống trong đêm

Có người chết trong đêm

Có người sinh trong đêm

Có người khóc trong đêm

Có người cười trong đêm

Có người cưới trong đêm

Có người điên trong đêm

Nhắm mắt

Trùm kín chăn

Nghe đêm cuộn quanh mình

Nhà thơ Ly Hoàng Ly

Sóng đêm

Những hỗn loạn của ban ngày

Đêm không bắt được

Những nỗi lòng như sông uẩn khúc

Chỉ chảy được về đêm

Tôi lặng lờ trôi vào đường hầm thời gian

Ánh sáng và bóng tối chỉ là chất liệu cho những gì diễn ra bên trong cơ thể

Như nồi súp đặc quánh nhiều gia vị lờ lợ

Tôi sôi lên lọc bọc bằng lửa của mình

Những xe chở cát muốn đem hết cát ngoài biển vào bảo tàng

Nghệ thuật sắp đặt sắp đặt người nghệ sỹ phải lao tâm và mòn mỏi vì những điều không tưởng

Những tiếng rì rầm đêm đã váng vất lên bầu trời đen mặt đất đen và vầng trăng nhe Nhói                                                                                                          

Đêm đã quá nhiều gia vị cho người ngộ độc thức ăn cuộc sống

Tôi trở về nằm trên chiếc giường êm màu hồng

Drap giường đính đầy hoa

Hoa khiến tôi ngạt thở dần dần

Ngạt thở dần dần…

Khi giấc ngủ đẫm hương hoa tưởng tượng

Tôi cứng đờ như xác ướp

Những hỗn loạn của ban ngày

Đêm không bắt được

Đêm tỏa sóng của đêm

Tôi – bắt – được – không?

Đêm về đi để sáng

 

Đêm về đi để sáng

Món ăn Ý không bao giờ hợp khẩu vị

Rượu vang Ý cạn mọi ý nghĩ

Người bạc tình từ trong lòng trắng mắt

Nến chỉ soi rõ một nửa nụ cười đa tình

một nửa đổ bóng khăn trải bàn

liếm những giọt ngây thơ bừng sáng

trên khuôn mặt người đàn bà có chồng

Nhạc Frank Sinatra nhấm nhẳng rền rã đêm

Khen nhau nhiều không biết mệt

Kéo mũ trùm đầu che mặt ngượng ngùng

Đụng nhau chỉ một đầu ngón tay

Run rẩy cả một kiếp

Đêm về đi để sáng

Khuôn mặt người đàn bà ngước nhìn lên

Sáng bừng đêm

Người đàn ông đa tình đuối mắt

Món ăn Ý không bao giờ hợp khẩu vị

Người đa tình không bao giờ biết thưởng thức đêm

Trên gương mặt người đàn bà có chồng

LY HOÀNG LY

TIN THƠ: 

 

>> Châu Hoài Thanh hồi sinh từ giọt đắng

>> Thuận Ánh yêu như nốt nhạc trầm

>> Kim Tuấn nỗi nhớ âm thầm

>> Nguyễn Kim Huy lời từ biệt với cơn mơ

>> Chử Thu Hằng người đàn bà vá áo

>> Vũ Tuấn mật ngữ đồi thông kim

>> Trần Lê Khánh trái tim kiến cắn

>> Phạm Phương Lan mơ ngày xanh an lành

>> Nguyễn Thuý Quỳnh những con chữ kết hoa

>> Nhật Chiêu vớt trong sương lại chút nồng nàn thơ

>> Lê Thanh My phía trăng lên

>> Bế Kim Loan đôi khi kêu lạc cả tên mình

>> Đặng Huy Giang tiễn một người đi

 

 

>> ĐỌC THƠ TÁC GIẢ KHÁC…

Ngữ pháp thơ Lê Đạt

Nhà thơ Lê Đạt

 

Ngữ pháp thơ Lê Đạt

ƠNG TÚ TUẤN

Mỗi ngôn ngữ tự nó là một nghệ thuật diễn đạt của tập thể.

(E.Sapir)

 

NVTPHCM- Thuật ngữ ngữ pháp được sử dụng ở tiêu đề bài viết này không phải như một ẩn dụ mà ngược lại là một khái niệm thuần túy kỹ thuật và nghiêm xác. Ngữ pháp đáng lẽ ra phải bao hàm hai bộ phận là hình thái học và cú pháp nhưng đặc trưng của tiếng Việt đã chối bỏ bộ phận thứ nhất và đổ dồn gánh nặng lên cú pháp. Do đó, chúng tôi sẽ xuất phát từ mối quan hệ cú pháp để soi chiếu vào thơ Lê Đạt, một hiện tượng mà đến nay vẫn còn nhiều thách thức…

Sự giới thuyết trên cũng đã xác định hướng tiếp cận mà chúng tôi sẽ sử dụng trong việc giải mã thơ Lê Đạt, đó là tri thức và phương pháp của ngôn ngữ học. Có lẽ sẽ không có gì trái với lí luận và thực tiễn khi đứng trên một quan điểm như vậy. Ngôn ngữ là chất liệu của văn học – nhận định này được coi như một chân lí. Và nhất là khi Jakobson tuyên bố rằng “thi pháp học có thể được xem như một bộ phận cấu thành của ngôn ngữ học”[1] và đi đến những phát kiến sáng chói trong khoa học văn học thì cái chân lí ấy lại càng vững vàng hơn bao giờ hết. Trong khi đó những nhà thơ như Trần Dần, Dương Tường, Lê Đạt đều được đồng thanh gọi là các nhà thơ ngôn ngữ và tác phẩm của họ được định danh là thơ ngôn ngữ.

 

Cách gọi “Thơ ngôn ngữ” thoạt nghe có vẻ bất ổn vì trùng ngôn nhưng ngược lại, đó là một nhận định hữu lí. Từ khi người ta bắt đầu dè dặt không dám nói to lên rằng “ngôn ngữ là công cụ của tư duy” thì cũng là lúc người ta khám phá ra sức mạnh và sự tự trị của ngôn ngữ. Sự chế ước và thống trị của ngôn ngữ đối với hiện thực và tư duy không phải đợi đến các triết gia của thế kỉ XX mới khám phá ra mà từ thời Humboldt[2] những tư tưởng ấy đã được khai mở. Saussure không phải là người chạy tiếp sức cho quan điểm đó nhưng những phát minh của ông vô hình trung đã trao trả về cho ngôn ngữ sức mạnh tự thân của một hệ thống tín hiệu kì lạ mà trước ông chưa từng được hiển minh.

 

Ngôn ngữ là một cơ thể sống chứ không hoàn toàn là một phương tiện hay công cụ của một mục đích khác nào bên ngoài. Người ta không thể tư duy về bất cứ thứ gì khi nó chưa được ngôn ngữ hóa, hay nói cách khác chưa tham gia vào hệ thống ngôn ngữ.

 

Đến thơ hiện đại mà những đại diện là Trần Dần, Lê Đạt… người ta không còn làm thơ bằng ý nữa mà bằng chữ. Những điều trình bày trên chính là cơ sở triết học và ngôn ngữ học cho sự ra đời của một cuộc cách tân thơ triệt để trong thi ca. Gọi là “thơ ngôn ngữ” chính bởi lí do đó.

 

Trở lại với quan hệ cú pháp. Vì sao chúng ta lại khẳng định trong tiếng Việt không hề tồn tại quan hệ hình thái học? Hình thái học là quan hệ của hình vị với hình vị, tức quan hệ trong nội bộ từ, đó là mối quan hệ thuần túy hình thức và chỉ có trong những thứ tiếng biến hình. Tiếng Việt, một ngôn ngữ đơn lập điển hình mà “cương vị ngôn ngữ học của tiếng”[3] đóng vai trò chi phối đến tất cả các bình diện từ tâm lí đến cấu trúc đã hoàn toàn loại bỏ sự có mặt của loại quan hệ này. Từ những nhà Đông phương học đến những nhà ngữ học phương Tây đều thống nhất với nhau ở điểm này. Từ những quan điểm khởi phát của Trần Trọng Kim, Nguyễn Hiến Lê đến sự nhũn nhặn của Nguyễn Tài Cẩn qua sự quyết liệt của Cao Xuân Hạo đều đồng tình trên một nhận định phủ quyết như thế. Ngay cả một người thao tác trên ngôn ngữ bằng một phương pháp thuần túy hình thức như Bloomfield cũng nhấn mạnh “ngôn ngữ này không có hình thái ràng buộc”[4] (khi nhận định về tiếng Hán). Chỉ có quan hệ cú pháp là hiện thực trong tiếng Việt. Quan hệ cú pháp chính là quan hệ của từ với từ. Và tất cả những sự xác lập giữa các mảng hiện thực trong tiếng Việt đều thành tạo trên cơ sở của loại quan hệ này. Đặc điểm này cơ sở như thế nào đến thao tác thơ Lê Đạt, chúng ảnh hưởng và chi phối ra sao và Lê Đạt đã dụng võ như thế nào trên mảnh đất đặc trưng này…?

 

Xét một bài Hai Kâu của Lê Đạt:

 

Vườn nắng mắt gió bay mùa hoa cải

Bóng lá răm phải ngày phả lại đắng cay

                                                (Phả lại)

 

Việc xác định các thành phần câu của hai câu thơ trên gần như là bất khả. Chúng ta không thể chỉ ra đâu là đề, đâu là thuyết, cũng như các thành phần câu khác. Phải chăng cấu trúc của thi ca đều như thế? Trong thơ mới tình hình hoàn toàn ngược lại. Ngay cả những người khó hiểu như Bích Khê, Hàn Mặc Tử, chúng ta cũng không mấy khó khăn khi làm công việc tương tự:

 

Đường kiến trúc/ nhịp nhàng theo điệu mới

            Đ                                  T

                                                (Duy tân – Bích Khê)

 

Ý xuân/ mát đến xương

    Đ                  T1                                 (B)

Ngậm tuyết phun lã chả

                T2

                                    (Xuân tượng trưng – Bích Khê)

 

B là một câu thơ vắt dòng, một câu ngữ pháp bị ngắt đôi ra làm hai dòng thơ. Cũng có trường hợp câu ngữ pháp bị ngắt ra thành ba hay bốn dòng thơ:

 

Dường có con chim báu

Rỉa cánh trên ngai lòng

Xòe xòe màu lông công

             (Xuân tượng trưng – Bích Khê)

 

Tuy cũng có lúc gặp phải chút bối rối khi phân tích cú pháp câu thơ Mới nhưng nhìn chung rất hiếm có một nỗi bất lực hoàn toàn nào ngăn trở ta. Đến đây ta thấy có một sự gần gũi giữa ngữ pháp thơ Mới và ngữ pháp văn xuôi. Phải chăng thơ Mới vẫn là “Một thứ văn xuôi đeo trang sức”[5]? Từ trong sâu xa, câu thơ ngữ pháp của thơ Mới thực chất vẫn là những nhận định (mệnh đề) được thể hiện dưới hình thức thi ca.

Tôi muốn tắt nắng đi

Cho mầu đừng nhạt mất

Tôi muốn buộc gió lại

Cho hương đừng bay đi

                        (Vội vàng – Xuân Diệu)

Người ta hoàn toàn xác định được điều Xuân Diệu đang nói trong những câu thơ trên, nhưng với: Bãi nổi sông thon chiều vỗ én/ Đồi mềm mây lưu thủy mắt thuyền quyên (Vũ ẻn) của Lê Đạt thì chẳng có cái “ý” nào được truyền tải ở đây, cũng chẳng có kinh nghiệm hay nhận định gì của tác giả, mà tất cả đổ dồn vào việc làm sống dậy các từ ngữ. Ngữ pháp của hai câu thơ này bị xuống cấp và đồng thời với nó là sự lên ngôi của thi tánh. Nhưng vì sao lại có hệ quả này? E. Sapir khi nói về phương thức trật tự từ đã gọi đó là phương pháp đơn giản nhất, tiết kiệm nhất và đi đến nhận định: “Nhưng điều đáng để ý là hễ người ta đưa ra hai hay nhiều khái niệm căn bản tiếp theo nhau cho trí tuệ con người thì nó sẽ cố gắng thiết lập những quan hệ nào đó giữa những khái niệm này” [6]. Ngữ đoạn tiếp theo nhau mà chúng tôi nhấn mạnh ở trên cần được lưu tâm một cách đặc biệt để tránh những thao tác làm việc cảm tính và thiếu căn cứ mà ta có thể gặp ở rất nhiều những công trình lớn nhỏ trong nghiên cứu thi ca. Vấn đề này chúng tôi sẽ trở lại ở phần sau của bài viết.

Bãi nổi (và) sông thon (và) chiều vỗ én

Đồi mềm (và) mây lưu thủy (và) mắt thuyền quyên

 

Bãi (thì) nổi sông (thì) thon chiều (thì) vỗ (về chim) én

Đồi (thì) mềm mây (thì) lưu (giữ) thủy mắt (thì như) thuyền quyên

 

Bãi nổi (cùng với) sông thon (và) chiều vỗ én

Đồi mềm (cùng với) mây lưu thủy (và) mắt thuyền quyên

 

Bãi nổi (trên) sông thon (trong) chiều (đang) vỗ (về chim) én

Đồi (như) mềm (trong) mây lưu (lại dưới bóng) thủy (như) mắt thuyền quyên

Tất cả những từ trong () đều là những cố gắng thiết lập những mối quan hệ giữa các yếu tố trước và sau nó. Những cố gắng ấy có thể tiếp tục và cho ra rất nhiều những kết quả khác nữa. Điều này đồng nghĩa với việc hai câu thơ trên sẽ có vô số nghĩa được thành tạo trên sự xác lập những quan hệ tương ứng. Nhưng dù sao, đến cuối cùng những câu thơ này cũng không phải là những mệnh đề theo kiểu thơ Mới. Sự đa nghĩa được dồn vào từ làm cho chúng sống dậy, dựng sững lên và chính nó nắm giữ vai trò phát nghĩa chứ không phải câu thơ trong tính toàn vẹn cú pháp của mình.

Nếu thơ tiền hiện đại nói chung là “con tàu đưa ta đến đích” thì thơ Lê Đạt là “kẻ rong chơi dẫn ta đi dạo”[7] (Donald Davie). Cuộc đi dạo sẽ luôn khiến ta phải dừng lại nhìn ngắm, thưởng ngoạn và nghiền ngẫm trên từng bước chữ, đường chữ chứ không giống như một cuộc chạy việt dã của văn xuôi xô đẩy ta lao về phía trước với một mãnh lực đã được tự động hóa của cú pháp. Thơ Lê Đạt là một nỗ lực gạt bỏ hay hạ bệ cú pháp – một “phạm trù phi thơ” (Hulme) để đạt tới một “độ không của lối viết” (R. Barthes), biến nhà thơ thành phu chữ trong xưởng lao động thủ công thơ.

 

R. Jakobson đã đặt tên cho một bài viết của mình là “Thơ của ngữ pháp và ngữ pháp của thơ” [8]. Thơ Lê Đạt không phải là thơ của ngữ pháp. Ngữ pháp ở đây được hiểu là cấu trúc cú pháp của ngôn ngữ tự nhiên, ngôn ngữ sơ cấp. Với sự hạ bệ ngữ pháp tự nhiên và xác lập một “ngữ pháp của thơ” của riêng mình Lê Đạt đã làm sống dậy những vỉa từ, những quặng chữ, biến chúng thành vàng ròng.

Hè thon cong thân nắng cựa mình

Gió ngỏ tình

                        xanh nín lộc

                                      giả làm thinh

                                              (Nụ xuân)

Rất khó để ngắt nhịp câu thơ đầu. Hay nói cách khác có rất nhiều bước thơ có thể được hiện thực hóa. Thực chất của sự ngắt nhịp xét đến cùng cũng là những cố gắng xác lập những quan hệ nội tại trong câu thơ.

 

Hè thon/ cong thân nắng/ cựa mình

Hè (thì) thon cong/ thân nắng (thì) cựa mình 

Hè thon cong thân/ nắng cựa mình

Hè thon cong thân nắng/ cựa mình

Trên mỗi gạch chéo (/) là một cố gắng nối kết để từ bỏ tính phi lí và đi đến một logic đang tiềm tàng. Câu thơ Lê Đạt đa nghĩa vì lẽ đó.

Sự xuống cấp của ngữ pháp thơ đã dẫn đến nhiều hệ quả quan trọng khác. Thuật ngữ “ghép chữ” [9] mà Đỗ Lai Thúy “tạm dùng” cho Xuân Sanh trong Mắt thơ có lẽ càng phù hợp hơn khi nói về thơ Lê Đạt. Sẽ là bất hợp lí khi dùng những khái niện như “tỉnh lược” hay “đảo ngữ” để nói về thơ ông. Nếu thật sự có những thao tác ấy thì việc phục dựng là hoàn toàn có thể nhưng ở đây sự thể lại chống đối một cách quyết liệt. Tất cả những biện pháp tu từ truyền thống đều bị đẩy xuống hàng thứ yếu. Phá bỏ cấu trúc ngữ pháp tự nhiên, sử dụng cấu trúc độc lập mà hệ quả là tạo ra một ảo giác về phương thức thơ ghép chữ là thể tánh của thơ Lê Đạt. Những điều này nói cho ta biết rằng thơ Lê Đạt được tạo sinh [10] chủ yếu trên trục kết hợp. Và cái “Vương quốc của ẩn dụ” mà người ta gán cho thơ của người phu chữ nhịn nói này dường như là một nhận định võ đoán. Một ví dụ cho sự lẫn lộn này là sự khác nhau trong cách quan niệm của Đinh Trọng Lạc khi ông xếp nhân hóa vào nhóm ẩn dụ trong khi đó Nguyễn Phan Cảnh lại đưa vào nhóm hoán dụ. Chúng tôi đồng quan điểm với Nguyễn Phan Cảnh, nhân hóa thực chất là một phương thức tu từ ngữ nghĩa được kiến tạo trên trục kết hợp. Chỉ ở đâu thao tác lựa chọn là chủ đạo thì ở đó ẩn dụ mới thực sự tìm thấy vương quốc của mình. Thơ Lê Đạt lấy trục kết hợp làm “mê lộ phố” đã thiết lập những quan hệ tương cận cho một thế giới hoán dụ sinh khởi.

 

Ba loại cú pháp tiêu biểu cho ba quan điểm về ngữ pháp thơ của ba tác giả Tây phương là Hulme với cú pháp độc lập, Finollosa với cú pháp động tác và Susane Langer với cú pháp thống nhất được Cao Hữu Công và Mai Tổ Lân tổng hợp trong Nghệ thuật ngôn ngữ thơ Đường đều xuất hiện với mức độ đậm nhạt khác nhau trong thơ Lê Đạt. Nhưng loại cú pháp chủ đạo nắm giữ vai trò quyết định tới phẩm chất cách tân của thơ Lê Đạt là cú pháp độc lập của Hulme mà chúng tôi đã từng bước trình bày trong bài viết. Loại cú pháp này là một tử huyệt dẫn đến “cái chết của tác giả” (R. Bathes). Từ trong mãnh lực chi phối của cú pháp độc lập hàng loạt ý tượng, biểu tượng được dựng lên, thơ trở nên giàu hình ảnh hơn bao giờ hết; nó hoàn toàn là một đối cực của “thơ không hình ảnh” và “thơ ngữ pháp” (Jakobson). Cũng cần phải nói thêm rằng: xét về số lượng thì cấu trúc độc lập không làm thành một áp lực đè nén những loại cú pháp khác nhưng ngược lại đó là nơi tập trung sự sáng tạo độc đáo làm nên tính hiện đại của thơ Lê Đạt. Thơ Lê Đạt nhập vào dòng chảy của thơ hiện đại thế giới, cùng minh chứng cho triết học ngôn ngữ một cách hùng hồn. Việc phá vỡ cấu trúc câu thơ tiền hiện đại và thay thế bằng những quan hệ cú pháp mới đã ngăn chặn sự đổ dồn một cách tự động và mù quáng của ngữ pháp lên từng yếu tố buộc người đọc phải dừng lại và thiết lập ở đó một “lý do” biến sự phi lý và hỗn độn thành “có nghĩa” một cách lâm thời và không thuần nhất. Sự không thuần nhất mà chúng tôi nói đến một phần là quy chiếu vào nghĩa liên nhân. Mỗi người do kinh nghiệm và cảm thức cá nhân mà có những cách xác lập khác nhau trước cấu trúc mở của câu thơ. Người đọc từ cánh cửa này đi vào sáng tạo và trở thành đồng tác giả.

 

Mô hình tam phân: tác giả-tác phẩm-người đọc trong phê bình văn học hiện đại được hiện thực với một trương lực (độ căng) hơn bao giờ hết trong cấu trúc gián đoạn của thơ Lê Đạt.

Liễu líu lo tình chim dịch biếc

Nhụy lời râu bướm tiếp âm hương

 

Hai câu thơ này là một ví dụ tiêu biểu cho loại cấu trúc gián đoạn của cú pháp độc lập. Liễu không thể “líu lo” được nên người đọc phải hợp lí hóa bằng cách tạo ra nhưng quan hệ mới như: (trong khóm) liễu (đang) líu lo tình chim, liễu (như đang) líu lo, liễu (mà còn) líu lo… Đấy là chưa nói đến việc xác lập quan hệ ngữ pháp cho cả câu thơ này:

 

(Trong khóm) liễu (đang) líu lo tình (của loài) chim (lúc đang cố) dịch (màu xanh) biếc (của liễu).

Liễu (đang) líu lo (hay) tình (của) chim (đang cố biến) dịch (sang màu xanh) biếc (của liễu).

Sự xác lập những quan hệ mới theo phương cách như vậy vẫn còn có thể tiếp tục và cứ sau một lần nối kết ta lại có một nghĩa mới cho chữ, cho câu. Chúng tôi không đồng tình với cách giải mã bằng cách đảo lại trật tự câu thơ để cố hiểu nó. Ví như:

Liễu líu lo tình chim dịch biếc  (1)

đổi thành:   Tình chim líu lo dịch liễu biếc  (2)

Khi thao tác như vậy, người ta đã khẳng định rằng: (1) chẳng qua là do (2) đảo trật tự mà thành! Và việc giải nghĩa chỉ là khôi phục lại cái cấu trúc tiền thân ấy mà thôi. Với cách quan niệm như vậy thơ sẽ bị giết chết từ trong bản thể của nó mà hậu quả nhãn tiền là coi như câu thơ đã được khai thác đến kiệt cùng, quá trình giải mã chấm dứt và thơ sẽ trở thành một mẩu tin chỉ để đọc một lần.

 

Việc làm này vi phạm một cách thô lỗ nguyên lí tuyến tính của năng biểu[11] mà người thầy của ngôn ngữ học hiện đại, F. de Saussure đã dạy. Một hậu quả nghiêm trọng nữa là việc giải mã thơ hiện đại trên nền tảng những hiểu biết về đặc trưng của thơ truyền thống. Sự than thở và lên án về thơ Lê Đạt mà một số người gọi là “hũ nút” chính là biểu hiện của sự lầm đường lạc lối này.

 

 (270/08-11)

 

______________________

 

[1] R. Jakobson(2008), Thi học và ngữ học (Trần Duy Châu biên khảo), Nxb Văn học.

 

[2] Những cơ sở triết học trong ngôn ngữ học 1984(Trúc Thanh dịch), Nxb Giáo Dục.

 

[3] Cao Xuân Hạo (2007), Tiếng Việt, mấy vấn đề ngữ âm ngữ pháp ngữ nghĩa, NXB Giáo Dục.

 

[4] Dẫn theo Cao Xuân Hạo (2007), Tiếng Việt, mấy vấn đề ngữ âm ngữ pháp ngữ nghĩa, NXB Giáo Dục.

 

[5] R. Barthes (1997), Độ không của lối viết (Nguyên Ngọc dịch), NXB Hội Nhà Văn

 

[6] E. Sapir (2000), Ngôn ngữ, dẫn luận vào việc nghiên cứu tiếng nói (Vương Hữu Lễ dịch), ĐHKHXH và NV TP. HCM.

 

[7] Dẫn theo Cao Hữu Công và Mai Tổ Lân (2000), Nghệ thuật ngôn ngữ thơ Đường (Trần Đình Sử dịch), NXB Văn Học.

 

[8] Trịnh Bá Đỉnh (2011) chủ nghĩa cấu trúc trong văn học, NXB Hội nhà văn

 

[9] Đỗ Lai Thúy (2000), Mắt thơ, NXB Văn hóa Thông tin.

 

[10] Thuật ngữ của Thụy Khuê trong Tạp chí Thơ, số 4 – 2009, Bóng chữ của Lê Đạt, NXB Hội nhà văn

 

[11] F. de Saussure (2005), Giáo trình ngôn ngữ học đại cương (Cao Xuân Hạo dịch), NXB KHXH

 

 

TIN LIÊN QUAN:

 

>> Tô Thuỳ Yên thức cho xong bài thơ – Ý Nhi

>> Hạ Lộ với văn học Việt Nam – Chu Quang Mạnh Thắng

>> Chuyển động thơ nữ Việt Nam – Hoàng Thuỵ Anh

>> Đọc thơ Võ Văn Luyến – Hoàng Thị Thu Thuỷ

>> Xoáy ngầm cuộn ở lòng sông – Nguyễn Thị Việt Nga

>> Dòng thơ văn Thanh Tâm Tuyền – Đặng Tiến

>> Biểu tượng thơ Hoàng Hưng – Lê Hồ Quang

>> Nguyễn Huy Thiệp, bởi những trải nghiệm riêng khác – Mai Anh Tuấn

>> Nguyễn Tất Nhiên – Thà như giọt mưa vỡ trên tượng đá – Ngô Nguyên Nghiễm

>> Ngược lối với thơ Phan Hoàng – Mai Thị Liên Giang

 

 

>> XEM TIẾP NGHIÊN CỨU – LÝ LUẬN PHÊ BÌNH CỦA TÁC GIẢ KHÁC… 

Ngô Phan Lưu & Thăm thẳm trưa

 Nhà văn Ngô Phan Lưu

 

Thăm thẳm trưa

 

TRUYỆN NGẮN CỦA NGÔ PHAN LƯU

 

NVTPHCM- Sáng thứ sáu, vợ chồng Thùy đi thi đại học từ xa, đem hai đứa con gửi nhà ông bà ngoại Nam.

 

Sáng thứ bảy, thấy hai đứa cháu buồn thiu, ông ngoại Nam quyết định đưa chúng đi thảo cầm viên. Mục đích muốn bọn nhỏ xem khỉ, cọp, kăngguru, voi, cá sấu… cho bớt buồn và mở mang kiến thức. Để dành tiền cho bọn nhỏ ngồi taxi, bà ngoại Nam phải tự túc mang theo cơm, thức ăn, nước uống.

 

Nhìn hai đứa cháu lăng xăng thay quần áo, mũ dép, ông Nam thấy cuộc sống mình được nối dài sang bọn nhỏ. Ông cảm thấy mát mẻ như vừa mới tắm.

 

Họ khởi hành lúc chín giờ sáng.

 

***

 

Vừa xách đồ đạc ra đường đón taxi, ông Nam nhắc vợ:

 

“Bà không đem túi nilông nôn mửa à?”

 

Bà Nam lật đật chạy vào bếp:

 

“Úi trời, tôi quên mất”.

 

Bà Nam mắc tật ngồi xe bị nôn mửa. Xe gắn máy lạnh, càng nôn mửa dữ dội. Chỉ cần xe đóng cửa, nổ máy là bà mửa thốc tháo, mặc dù chưa hề lăn bánh. Ông Nam vẫn đùa, đó là “bệnh nhà quê”. Muốn trị, phải dùng thuốc “đi bộ”.

 

Vừa khom người bước vào taxi, bà Nam lập tức kê mồm vào bao nilông. Nhìn vợ, ông lắc đầu, thở dài.

Xe chạy chỉ hơn nửa tiếng, bà Nam đã thốc hết ráo bữa điểm tâm sáng. Nhai nuốt cho lắm vào chỉ tổ công cốc. Ông Nam nhìn vợ, lại thở dài.

Khi xuống taxi, ông Nam phải dìu vợ ngồi tựa gốc cây một chặp.

***

Trẻ nhỏ đi thảo cầm viên cũng giống như cá thả xuống nước. Chúng mừng rơn. Chúng cứ đi ngang như cua, trông rất buồn cười. Lại có lúc, chúng đi như nhân loại, lưng tiến tương lai, mắt dòm quá khứ, làm ông bà Nam lo ngại. Lần đầu tiên tới nơi này, chúng thích quá. Bà Nam luôn kêu to:

 

“Không chạy xa. Lại đây. Coi chừng lạc đấy”.

 

Ông Nam vừa đi, vừa nói với vợ:

 

“Chúng ta đến ngay khu động vật, cho bọn nhỏ sướng mắt một bữa. Trẻ con ưa chỗ này”.

 

Được rời khỏi taxi, bà Nam như thoát khỏi địa ngục. Lúc này, bà tươi tỉnh hẳn, bước nhanh chân. Chính bà cũng thích xem động vật. Bà trao chiếc giỏ thức ăn cho chồng xách:

 

“Xem động vật quí hiếm ai mà không thích. Ông có thích không?”

 

Ông Nam không trả lời. Như vậy, bà biết chồng cũng thích. Họ vừa đi vừa nhìn toàn cảnh thảo cầm viên. Một buổi sáng rực rỡ, đặc biệt là trẻ nít, nhìn chúng rực rỡ hơn cả buổi sáng. Đứa nào cũng sáng trưng đôi mắt, chân cẳng xoạt qua xoạt lại hình chữ “chi”, uốn mình, lắc mông, tay chỉ chỏ chỗ này chỗ nọ, mồm nói cười liên hồi.

 

Ông Nam thoáng nghĩ, nếu không có loài vật, trẻ con sẽ mất vui. Còn nếu không có trẻ con, người lớn cũng sẽ mất vui. Vậy, có loài vật, loài người được vui. Ông phì cười kiểu lập luận rắc rối của mình. Kiểu rắc rối này không đem lại điều gì mới mẻ cả. Kiểu rắc rối của hai câu thơ một ông bạn già đã tâm đắc sáng tác: “Bò mẹ đẻ xong thì chết/ Bò con chết vừa đẻ xong”. Chả biết con nào chết trước, con nào chết sau. Mà sau hay trước để làm gì? Con nào cũng chết cả!

Đột ngột, hai thằng cháu níu ông bà Nam lại, chúng đòi quẹo trái để xem voi. Đó là một con voi to đùng, da hằn những vết nhăn sâu như dao xẻ, chân loảng xoảng xiềng sắt tù đày. Có lẽ nó đã già. Già lắm, nên da mới nhăn nhíu ghê gớm đến thế. Nhìn gần, bọn trẻ rất hãi. Chúng há mồm, thè lưỡi trước thân thể khổng lồ của con voi. Chính ông Nam cũng tiếp nhận cảm giác rờn rợn ấy. Ở con voi già này, toát ra một sức mạnh vô tâm và hoang dã. Một sức mạnh phi thiện ác, chờn vờn lan cả ra ngoài không khí. Con voi đang nhai mía. Hai đứa cháu lấm lét ngắm nhìn. Thằng anh đã lấy được bạo dạn, chỉ tay vào con voi, giọng trong vắt như chim kêu:

 

“Hai quạt mo kìa, bốn cột nhà kìa, một chổi cùn kìa, một cái kèn kìa…”

Dường như con voi nghe hiểu, nó ngừng nhai mía, vươn vòi thẳng tới, nhấc lên hạ xuống, ngúc ngoắc giỡn chơi trước mặt lũ trẻ. Tất cả bọn trẻ sợ hãi lùi xa, rồi cười như nắc nẻ. Có vẻ như không hài lòng, con voi không đùa với lũ trẻ nữa, nó nặng nề xoay mình, thọc vòi xuống hồ nước, rồi ngất vòi lên, chỉa thẳng như nòng đại bác. Nó di chuyển chậm chạp cái “nòng đại bác” theo hình cánh quạt, và đột ngột dừng lại, phun nước ngay vào một cặp cô cậu đang đứng úp mặt vào nhau. Vòi voi phun nước cực mạnh, cô cậu té nhào, ướt nhẹp. Tất cả mọi người ở đấy cười như pháo, bọn trẻ nhỏ nhảy cẫng lên, vỗ tay khoái chí. Cô cậu nọ hốt hoảng bò dậy, dắt nhau chuồn mất. Bà Nam cười tít mắt, giọng hả hê:

 

“Cho chừa. Đông thế này, dám ngang nhiên hôn với hít. Ông voi ơi, cứ dạy chúng đi. Bọn tôi không dạy nổi. Bó tay rồi”.

 

Ông Nam cũng cười sằng sặc:

 

“Hai đứa ấy lãnh bài học nhớ đời. Tôi đoán chắc với bà, sau này chúng thành vợ thành chồng, một khi thằng chồng nổi máu hôn vợ, thế nào con vợ cũng đe nẹt cảnh giác: “Liệu hồn. Có voi đấy không?”. Và, tôi cũng đoán chắc với bà, sau này hai cô cậu ấy sinh con đẻ cháu, họ sẽ rất quí con voi già này”.

“Tại sao lại quí?” – Bà Nam hỏi.

Vẫn ngắm con voi già, ông Nam trả lời:

“Bởi vì, con voi đã hành động vừa ý số đông”.

Nghe vậy, bà Nam cười, không nói gì. Như thế, ông Nam biết mình đã nói đúng.

Giờ này, ông Nam mến con voi già vô cùng. Mà dường như tất mọi người đang đứng đây cũng mến nó. Nó đã hành động để bảo vệ thuần phong mỹ tục đang mai một. Ừ, chỗ đông đảo phải đàng hoàng chứ, việc “ấy” thiếu gì lúc, hiếm gì nơi, chỗ này là chỗ người ta tham quan voi cơ mà.

 

“Bọn trẻ bây giờ quá lắm. Hoan hô ông già voi” – Một bà khách trong đám đông lên tiếng.

 

Để tưởng thưởng hành động ngoạn mục vừa rồi của voi, một ông khách có râu khủng bố liền mua khúc mía, thò tay đút vào. Con voi ngoạm khúc mía, hạ thấp đầu như thể kính cẩn cảm ơn. Lúc này, bọn trẻ không sợ con voi nữa, chúng biết nó hiền, biết nó đứng đắn, và biết nó luôn sẵn sàng trị tới nơi tới chốn các trò nhố nhăng. Bọn trẻ liền lấn tới trước, tì tay vào hàng rào sắt, xem voi thật gần. Lạ thật, dường như tất cả mọi người đang đứng xem voi, không người nào nghĩ rằng mình sẽ bị nó phun nước. Chính ông Nam cũng có tâm trạng bình yên ấy. Tất cả đều tin tưởng vào con voi. Ông nhớ lại, mình đã nghe bà nội nói rằng, tuy voi to lớn khổng lồ thế, nhưng nó luôn cẩn thận tránh giẫm đạp lên những sinh vật bé nhỏ trong lúc đi đứng. Nó luôn quý trọng sinh mạng những con vật nhỏ nhoi quanh mình. Ông Nam lại nhìn dây xích sắt người ta xiềng vào chân con voi già, lòng ông bỗng buồn buồn. Một nỗi buồn hoang vu, giống như nỗi buồn ngày xưa, mỗi khi bà nội kể chuyện cổ tích ông nghe. Có lẽ, nỗi buồn không bao giờ cũ. Chỉ có niềm vui là cũ mà thôi.

 

Họ dứt xem voi, họ đi chỗ khác. Nhìn hai đứa cháu vươn bàn tay tí hon, phất qua phất lại, mồm la “Bái…Bai…Bái…Bai…” với con voi già, ông Nam thật sự cảm động. Nơi bọn trẻ, có sự bình đẳng giữa người và loài vật. Ông cũng ngoái lại, nhìn trìu mến con voi. Đột nhiên, ông không thấy nó khổng lồ nữa, cơ thể như vậy là vừa. Thon thả và rất đẹp.

 

Khi đến chỗ chuồng dã nhân, hai đứa cháu quá thích chí. Cái con vật này nom tướng tá cứ như con người. Vừa đảo mắt thấy phụ nữ loáng thoáng, nó cười toe toét, nước dãi nhểu lòng thòng, tức tốc thò tay gãi dái sột soạt…Việc khả ố này khiến nhiều bà, nhiều cô phải bưng mặt chỗ khác. Hắn là thuỷ tổ loài người đấy! Hãy coi chừng! Các người đẹp ạ! Bà Nam cũng quay mặt chỗ khác, nhưng bà lại nhìn chồng. Trong ánh nhìn của bà như ngầm hỏi: “Nó đâu khác gì ông? Phải không nào?”. Ông nhìn lại và trả lời bằng cái cười nam châm và cái nhún vai điệu nghệ. Rõ ràng ông Nam theo phe cánh với con dã nhân. Còn bà Nam lại luôn theo ông Nam.

“Đi chứ. – Bà Nam đập tay vào lưng ông Nam, gắt – Đi chứ. Bọn nhỏ chạy tuốt đằng kia rồi”.

 

Ông Nam trở về hiện thực nơi thảo cầm viên đông đảo người qua lại. Ông vừa nghĩ gì vậy? Ông chả nghĩ gì cả. Không hiểu sao, đôi lúc hiện thực trước mắt vẫn tồn tại đấy, nhưng chúng không thực nữa, mà cứ như trong phim. Và, ông chỉ cần chớp mắt vài cái, là… hiện thực lại hoàn như cũ.

 

“Ừ, đi. Bọn chúng đâu? Ồ… Tôi thấy chúng rồi, đằng kia”.

 

Họ săn chân đi đến chỗ hai đứa cháu.

 

Hai đứa cháu đang đứng dòm con cù lần nhỏ xíu, nằm khoanh tròn ngủ li bì. Thằng cháu em hỏi:

“Ông “dại”, ông “dại” (Đúng ra là ông “ngoại” chứ không phải “dại”. Chúng nói rặt tiếng Phú Yên vùng Nam Trung Bộ, lại đớt nữa, nên ra nông nỗi thế). Ông “dại”, con gì chết, sao không quăng đi, hả ông “dại”?”

Ông Nam xoa đầu thằng cháu, ông nghe trong lòng tay mình một cảm giác cứng như sắt. Ông mỉm cười khoan khoái, thầm khẳng định rằng, đầu phải cứng như thế này mới gọi là đầu. Đầu ông không cứng được như thế. Ông vui sướng trả lời đứa cháu:

 

“Không phải chết. Nó đang ngủ đấy. Nó là con cù lần. Cháu biết không? Nó ngủ suốt ngày, không thèm ngồi dậy. Người ta phải đặt thức ăn sát ngay miệng nó, may ra nó mới chịu ăn. Con cù lần mà! Nó ngủ trong rừng, cứ nằm ngửa, há miệng ra, chờ trái cây rụng lọt vào miệng, lúc ấy nó mới nhai. Nhai rồi cứ để yên đấy, cũng không thèm nuốt. Chờ trái khác rụng lọt tiếp vào miệng, nó mới nuốt trái đã nhai! Cù lần mà!”.

“Úi trời ơi! – hai thằng cháu đồng la lên – Đồ lười biếng quá xá!”.

 

Chúng đập đập vào chiếc lồng sắt, con cù lần cũng không thèm thức dậy. Chúng nhìn ông ngoại, nháy nháy mắt, lắc đầu, rồi cười. Ông Nam cũng nháy nháy mắt, cười lại. Con cù lần vẫn ngủ li bì. Bà ngoại Nam dòm vào lồng, thấy nó bà cũng lắc đầu. Ông Nam nói:

“Không con vật hung dữ nào dám ăn thịt con cù lần, kể cả con người”.

 

Bà Nam ngạc nhiên:

 

“Tại sao thế?”

 

Ông Nam giải thích:

 

“Ăn vào, lây bệnh “cù lần”, thế là hết đường sống. Con cù lần nổi tiếng xui xẻo. Không ai muốn động vào nó”.

 

Chán nản, bọn cháu lại chạy đi chỗ khác, vì dân cù lần chẳng có gì hay ho. Ông Nam bà Nam lại dẻo chân đi theo chúng. Đến chuồng cọp, bọn cháu dừng hẳn lại. Con vật hung dữ này chúng đã quen mắt trên tivi. Đây là con cọp lớn, dài đòn, vằn vện, bụng lép xẹp. Trông nó nhẫn nhục và căm ghét những người đang xem nó.

“Sao cháu nó hỏi, ông không trả lời? – Bà Nam gắt – Ông đang nghĩ gì vậy?”

“Chúng nó hỏi gì?”- Ông Nam chớp chớp mắt, trở về thực tại. Ông lại thở xì, chán nản với chính mình.

“Con cọp bị ở tù, phải không ông “dại”? – Thằng cháu em nhắc lại câu hỏi”.

Ông Nam ngạc nhiên nhìn thằng cháu đang dán mắt vào con Cọp:

“Phải. Nó đang ở tù. Nó đang nhớ rừng”.

Thằng cháu gật gật đầu:

“Hèn chi nó cứ đi qua đi lại. Không ngồi yên được. Há, ông “dại”?”.

“Ừ”.

Quả thật, con cọp cứ đi qua đi lại không ngừng. Tại sao thế? Có lẽ nó đang căm thù cái trí khôn của con người, cái mà nó không có. Không, không hẳn nó nhớ rừng. Nó không nhớ rừng. Nó thừa biết rằng, ngày nay chỉ cần ai đó chỉ chỗ có cứt cọp, người ta cũng có tiền triệu để xài cơ mà. Cọp làm gì còn chốn nương thân mà nhớ rừng tiếc núi. Ông nghĩ rằng mình vừa trả lời sai. Nó không nhớ rừng gì cả. Nó chỉ căm thù con người. Thằng cháu em lại hỏi:

 

“Chừng nào cọp mãn tù, hả ông “dại”?”.

Không cần suy nghĩ, ông Nam trả lời dứt khoát:

“Khi chết xong”.

Nghe ông ngoại trả lời chắc nịch như thế, thằng cháu em thở dài, rồi vụt chạy sang khu vực nuôi động vật bò sát. Thằng cháu anh chạy theo. Bà Nam gọi giật lại, nhưng chúng không nghe. Ông bà Nam lại lẽo đẽo đi theo. Khi đến gần chuồng nuôi trăn, ông nghe tiếng gọi hốt hoảng của bọn cháu:

 

“Ông “dại”, ông “dại”. Sợ quá ông “dại” ơi! Lại đây coi nè”.

 

Ông bà Nam tiến đến. Khuôn mặt của hai thằng cháu trông tái xanh, thất thần. Thằng cháu em, nói líu lưỡi:

 

“Ông “dại”, ông “dại”, coi con thỏ kìa”.

Nó vừa nói vừa chỉ tay vào con thỏ đang đứng chôn chân tại chỗ trong chuồng trăn.

Ông bà Nam nhìn vào chuồng trăn. Một cảnh tượng đau xót không thể dùng lời nói ra được. Trong chuồng bọc kín lưới sắt, một con trăn khổng lồ đang ngủ khoanh tròn một đống. Sát bên nó, một con thỏ đang run bần bật, hai mắt thất thần, mở nhắm liên hồi. Con thỏ được người ta bỏ vào đấy, là bữa lót lòng cho con trăn ngủ dậy. Nhìn con thỏ tê liệt vì khiếp sợ, lông lá dựng đứng cả lên, toàn thân rung lên như bị truyền điện, cả đến hai tròng mắt cũng rung bần bật sắp văng ra ngoài. Cả đến cái màu lông trắng của nó cũng sẫm lại vì sợ. Một con thỏ bé bỏng đang thất thần run bắn, bên cạnh một con trăn khổng lồ bình thản ngủ say. Hẳn người ta bỏ con thỏ vào đấy từ lâu. Bỏ từ lâu để khách tham quan xem “sự run sợ” cho đã mắt. Đột nhiên, máu trong người ông Nam sôi lên… Lúc này người ta đến tham quan khá đông. Ông Nam vội dắt tay hai đứa cháu, kéo đi chỗ khác, mục đích không cho chúng xem, nhưng chúng trì lại, không chịu đi. Ông cháu cứ giằng co.Thấy thế, chú công nhân đang loay hoay sửa hệ thống điện, vội xem đồng hồ đeo tay, liền nói: “Con trăn sắp thức dậy đấy. Coi màn hấp dẫn trăn xơi thỏ đã chứ? Bố kéo cháu đi đâu thế?”. Nghe vậy, ông Nam cắn chặt răng, quai hàm bạnh ra, mắt toé lửa nhìn xoáy vào chú công nhân. Trước tia nhìn dữ dằn của ông Nam, chú công nhân lật đật quay mặt chỗ khác. Và, bằng tất cả sức mạnh, ông lôi hai thằng cháu ra khỏi đám đông. Bà Nam lật đật lách người, chạy theo. Đi nhanh đến gốc cây cổ thụ, ông Nam ngừng lại, thả tay hai thằng cháu ra. Ông thở dốc. Giọng thấm mệt, đứt quãng, ông lệnh bà vợ:

“Bà lấy miếng nhựa. Trải ra. Ngồi nghỉ. Ăn cơm. Không xem nữa. Về”.

Nói xong, ông ngồi sụp xuống, chồm người tới đằng trước. Thế ngồi chồm người đằng trước là thế ngồi vững chãi. Thế ngồi của người sắp ngã thường dùng. Đột ngột, một ý tưởng lạ lùng vừa xoẹt qua óc ông. Ý tưởng sáng trưng như đèn flash. Rằng, từ sáng đến giờ, gia đình ông không phải đi tham quan động vật quí hiếm, mà là đi tham quan “cái ác quí hiếm” của con người. Cổ họng ông khô khốc, đắng ngét. Ông không hiểu được tiếng nói loài vật, nhưng ông chắc chắn rằng, nếu chúng mắng nhiếc lẫn nhau, chúng phải mắng rằng: “Mày là đồ con người!”. “Loại mày là loại con người!”. Đột ngột, trong không gian dường như có tiếng nói không lời đáp trả: “Loài vật không đem con người để mắng nhiếc lẫn nhau, ông Nam ạ! Toàn bộ chúng đều nhất tề mắng thẳng vào con người. Chúng mắng đích danh thủ phạm: “Cái giống người khốn kiếp!”. Lại cũng thật đột ngột, ông nghĩ, giờ này có lẽ con thỏ bé bỏng đã thôi run. Con thỏ thôi run vì con trăn đã thức dậy. Dường như có một gáo nước lạnh vừa tạt vào trí ông. Ông tỉnh trí hẳn. Ừ, độc ác của con người cũng tới đấy là cùng. Cũng tới chỗ con thỏ thôi run là cùng. Tới chỗ cái chết là cùng. Làm sao vươn xa hơn cái chết?

 

Bọn cháu ông bà Nam, bây giờ không còn láu táu nữa, chúng ăn cơm chăm chú, dáng vẻ đăm chiêu. Trẻ nhỏ mà đăm chiêu, trông chúng thật bơ vơ tội nghiệp. Có lẽ hình ảnh con thỏ run rẩy, khiếp đảm, thất thần… chưa tan trong tâm trí chúng. Chúng ăn cơm trong im lặng.

Ông Nam, bà Nam không ăn cơm. Có gì đấy đang tanh tưởi trong cổ họng, họ không nuốt nổi cơm. Họ chỉ ngồi im và cau mày.

***

Mặt trời đứng bóng. Ngày đã vào chính ngọ. Cái nắng đang hóa thân thành vô số hạt bụi li ti, vọt nhảy lung tung làm nhức mắt. Ngồi trong bóng râm, mắt phải nhìn vào, không dám nhìn ra. Không một làn gió. Chốc nữa sẽ là cái nắng xỏ tai, cực kỳ khó chịu. Ông Nam cởi phanh ngực áo. Một buổi trưa làm người lớn phải hốc hác đi. Kể cả trẻ con cũng đăm chiêu, lưỡng lự. Một buổi trưa… Thăm thẳm trưa…

 

 

TRUYỆN NGẮN:

>> Những cơn bão – Nguyễn Thị Mai Phương 

>> Hương rừng – Sơn Nam

>> Cuộc hội ngộ câm – Trương Văn Dân

>> Hoàng hoa tửu – Trần Quỳnh Nga

>> Thiên sứ về trời – Nguyễn Thị Việt Nga

>> Ngải đắng ở trên núi – Đỗ Bích Thuý

>> Tình cha – Châu Hoài Thanh

>> Anh em song sinh – Võ Chí Nhất

>> Gửi ông Đại tá chờ thư – Nguyễn Văn Thọ

>> Người tình – Cấn Vân Khánh 

>> Mùa thanh long – Nguyễn Trường

 

 

>> ĐỌC TRUYỆN NGẮN TÁC GIẢ KHÁC… 

Trang web Hội tạm ngưng cập nhật thông tin

NVTPHCM- Vì lý do kỹ thuật và điều kiện kinh phí khó khăn nên kể từ hôm nay Trang thông tin điện tử Hội Nhà văn TP.HCM phải tạm dừng cập nhật thông tin để sửa chữa, nâng cấp và vận động kinh phí.

Ban điều hành website rất mong được đón nhận sự góp ý xây dựng về nội dung, hình thức lẫn hỗ trợ tài chính của các hội viên, mạnh thường quân, bạn đọc xa gần để khi cập nhật thông tin trở lại trang web sẽ hoạt động tốt hơn.

Mọi tin tức xin liên lạc với nhà thơ Phạm Sỹ Sáu – Phó Chủ tịch thường trực Hội, Trưởng ban Điều hành website, ĐT: 091 8330732, Email: phsysau@gmail.com.

Chân thành cảm ơn!

>> XEM TIẾP HOẠT ĐỘNG HỘI… 

Hải Bằng đọc thơ và tạo hình rễ cây

NVTPHCM- Nhà thơ Hải Bằng tên thật là Nguyễn Phước Vĩnh Tôn, sinh ra ở Huế. Ông thuộc dòng dõi hoàng tộc. Cha ông từng là tri huyện Bố Trạch, Quảng Bình, rồi làm Tổng đốc Tây Nguyên dưới triều Nguyễn. Hải Bằng gia nhập Vệ quốc quân từ khi mới 14 tuổi, là chiến sĩ thuộc trung đoàn 101 tại Thừa Thiên.

Từ năm 1948, ông ở trong đoàn văn nghệ Liên khu IV vào chi viện cho chiến trường Bình Trị Thiên. Lúc này, ông lấy tên là Văn Tôn, làm thơ và đọc cho bộ đội nghe. Những bài thơ của ông liên tục xuất hiện tại chiến khu Dương Hòa, Ba Lòng, Gio Linh, Cam Lộ. Trong số đó có bài thơ nổi tiếng “Em nữ cứu thương người Pháp” gây ra nhiều tranh cãi. Năm 1954 ông được chuyển công tác về Vụ Văn hóa Đại chúng thuộc Bộ Văn hóa. Năm 1959 ông về Ty Văn hóa Quảng Bình làm công tác phát hành sách. Sau khi đất nước thống nhất ông cùng gia đình về lại cố đô Huế sinh sống và làm việc tại Ty Văn hóa Bình Trị Thiên cho đến khi ông nghỉ hưu năm 1994.

Nhà thơ Hải Bằng thuộc thế hệ nhà văn sáng lập Hội Nhà văn Việt Nam. Ông có mặt trong Đại hội thành lập Hội Nhà văn Việt Nam năm 1957 với tên Vĩnh Tôn, sau đó do điều kiện công tác, ông không tham gia sinh hoạt và 1985 được kết nạp vào Hội lần thứ 2 với tên Hải Bằng. Ngoài làm thơ ông còn yêu thích vẽ tranh và tạo hình rễ cây.

Tác phẩm đã xuất bản: Hát về ngọn lửa (1980); Trăng đợi trước thềm (1989); Thơ tình Hải Bằng (1989); Mưa Huế (1992); Mưa lại về (1993); Sóng đôi bờ (1994); Đề lên năm tháng (1995); Tuổi Huế trong ta (1996); Độc hành (1998)…

Nhà thơ Hải Bằng qua đời ngày 7 tháng 7 năm 1998. Nhân kỷ niệm 20 năm ngày mất của nhà thơ, xin giới thiệu lại bài viết của nhà văn Nguyễn Quang Lập, một bài viết được nhiều người yêu thích về ông.

Nhà thơ Hải Bằng (Vĩnh Tôn) và tác phẩm

Nhớ Hải Bằng

NGUYỄN QUANG LẬP

Anh Hải Bằng làm thơ từ thời kháng Pháp*, nổi tiếng như cồn ba tỉnh Bình Trị Thiên. Anh hay ra Ba Đồn chơi, lần nào anh ra một vạn dân thị trấn ai cũng biết.

Mình nhớ như in hồi lớp một, một hôm anh đến nhà mình, ba mình lật đật chạy ra ngõ khom người đưa hai tay ra bắt, miệng lập cập nói, mời anh… mời anh, dù ba mình lớn hơn anh chục tuổi, quyền chức cũng gấp 10 anh, hồi kháng Pháp còn là sếp trực tiếp của anh.

Mình đứng ôm cột nhà nhìn anh, hồi đó còn bé thấy nhà thơ cũng giống nhà hoạn heo, không xúc động gì, chỉ đứng ôm cột nhà trương mắt nhìn.

Anh cúi xuống búng chim mình một cái, nheo mắt cười chào, hỏi ba mình, con anh có đứa mô biết mần thơ không? Ba mình nói, dạ không, con tôi toàn giỏi tự nhiên, không đứa nào mê văn chương. Anh lại bóp chim mình cái nữa, nói, tiếc hè, thằng ni trôốc (đầu) to ri mà không mần được thơ, tiếc hè.

Anh uống rượu đọc thơ. Mạ và hai chị mình chạy vào chạy ra tiếp rượu, đồ mồi, thầm thầm thì thì, nét mặt nghiêm trọng. Ba mình thì khúm núm nghe anh đọc thơ, nhìn anh ngưỡng mộ, thỉnh thoảng lại kêu lên: Hay! Sâu sắc!

Sau này thành nhà văn gọi là nổi tiếng, mình chưa đến nhà ai mà được người ta ngưỡng mộ đến như thế.

Từ đó mình bắt đầu để ý thơ Hải Bằng. Hễ có bài nào anh đăng là chụp đọc ngay, rồi chép thành một cuốn sổ. Bây giờ đọc lại, thấy tàm tạm, chẳng bài nào hay, nhưng hồi đó bài nào của anh mình cũng ngây ngất như đọc thánh ca.

Chẳng ngờ mười năm sau mình cùng được giải ba (không có giải nhất) thơ Quảng Bình với anh, còn đứng trên cả anh. Hồi đó không xếp theo abc, cùng giải thơ, ai hay hơn thì xếp trên.

Một thằng cu con học lớp 10 lại cùng giải với một nhà thơ mình vô cùng ngưỡng mộ, thật còn hơn cả một giấc mơ, đừng nói còn xếp trên giải.

Khi trao giải thì mình đã đi học Bách Khoa, không vào Hội được. Tiếc quay quắt. Năm sau hợp nhất ba tỉnh, mình vào Huế, đến Hội văn nghệ, đinh ninh cả Hội sẽ vây quanh vồ vập Nguyễn Quang Lập đó à, trẻ quá hè, tài hè… hoá ra lạnh như kem.

May có chị Dạ (Lâm Thị Mỹ Dạ) tiếp đón không thì chết đói ở Huế không biết chừng.

Tội nghiệp chị Dạ dắt mình đi, gặp ai cũng nói Nguyễn Quang Lập đây nì, ai cũng à, bắt tay rồi bỏ đi.

 

Hội đông người, mình chẳng biết ai ra ai, chỉ nhớ nhất Hải Bằng. Khi đó ông đang đứng nói chuyện với Bửu Chỉ và Trịnh ông Sơn. Chị Dạ nói, anh Hải Bằng, Nguyễn Quang Lập đây nì.

Anh ngoảnh lại, tưởng anh à, rồi bắt tay mình như anh Sơn, anh Bửu Chỉ, hoá ra anh không thèm nhìn mình mà hỏi chị Dạ, mi đã đọc chùm thơ tau đăng báo Văn Nghệ chưa?

Chị Dạ nói, đọc rồi. Chị lại kéo tay mình ấn về phía anh, nói, Nguyễn Quang Lập đây nì. Anh vẫn không thèm nhìn mình, mắt vẫn hướng về chị Dạ, nói, hay không?

Mình vừa tức vừa ngượng vừa tủi.

Chị Dạ lôi mình đi, miệng lẩm bẩm, cái ông Hải Bằng ni tức cười, khi em được giải, ông khoe đi khoe lại thân với nhà em lắm.

Về sau mình mới biết Hải Bằng chỉ quan tâm đúng hai thứ, đó là thơ anh và con Xíu, con gái đầu của anh.

 

Anh Sơn (Trịnh Công Sơn) nói, Lập vô đây nên biết, tất nhiên thơ Hải Bằng là số một rồi, còn ai là số hai, số ba, số bốn thì tụi mình tha hồ bầu.

Đúng vậy, ai chê thơ anh lập tức bị ăn chửi liền, dù người đó có là ông trời. Bạn chí cốt, nếm mật nằm gai một thời với anh như Phùng Quán cũng chưa bao giờ dám mở mồm chê một nửa câu thơ của anh.

 

Ai từng ở Huế, biết tí chút văn thơ, đều nhớ câu ca: Thứ nhất là sợ đau răng/ Thứ nhì sợ bác Hải Bằng đọc thơ. Một hôm anh Sơn phổ nhạc câu thơ này, theo điệu Lý năm canh, mình và Vinh Nguyễn cười lộn ruột.

Anh đọc thơ bất kì lúc nào, bất kì ai, không cần biết người đó có sẵn sàng nghe hay không. Đọc xong anh hỏi hay không, tất nhiên phải nói hay, anh hỏi hay răng. Khi đó mà không nói được vài điều khen hay cho có lí, anh cũng chửi.

Anh có tài tạo hình bằng rễ cây, chủ yếu là tạo hình các con thú. Nhà anh đầy những rễ cây các con thú khác nhau. Đến chơi nhà, bao giờ anh cũng chỉ một hình rễ cây vừa làm xong hỏi đẹp không, tất nhiên là nói đẹp. Nói xong thì lo thắt ruột sợ anh hỏi con chi, không nói được thì bỏ bà.

Các hình rễ cây đều gắn lên đế gỗ. Cái đế nào cũng kí hai chữ Hải Bằng. Một hôm mình ngồi chơi với anh, bạn trai con Xíu đến chơi, nó nịnh anh, khen hình rễ cây anh đẹp. Anh thích lắm, nói với mình, đó… bạn con Xíu đó, bạn con Xíu đứa mô cũng giỏi. Thằng bé phởn, tưởng bở, cầm cái rễ cây ngắm nghía, không biết là hình con gì, nó hỏi, Hải Bằng là con chi hả bác?

Anh hét lên, con cái mả cha mi. Ngu rứa. Thằng bé sợ tái mặt, đứng đực, vẫn không hiểu vì sao anh chửi nó.

Làng văn Huế, Hải Bằng là bậc trưởng lão, tuổi nghề cũng như tuổi đời anh đều hơn hết thảy. Vì vậy anh có nói gì cũng chẳng ai dám ho he. Với lại biết bụng dạ anh chẳng có gì. Chửi đó thân thiện đó. Như con nít đang khóc thét dữ dội, gặp cái ưng ý là cười liền, anh cũng vậy.

Buổi chiều vừa chửi anh Văn Lợi không còn một lời nào, tối mình đến nhà Hải Bằng, nói, anh chửi anh Văn Lợi chi tội, anh Văn Lợi đánh giá thơ anh cực kì luôn.

Anh hỏi, đánh giá răng? Mình nói phét, Văn Lợi nói thơ Tố Hữu nhiều bài dở nhưng thơ Hải Bằng thì không có, tao đọc kĩ rồi, tìm mãi không thấy bài nào dở, tuyệt nhiên không.

Anh cười nói, thằng Văn Lợi hay chơ. Sáng mai gặp Văn Lợi, anh nói cười như không, như chưa hề có vụ chửi ngày hôm trước.

Một đêm anh Sơn uống rượu, bày thơ Hải Bằng ra diễu, chỉ trêu vài câu thôi. Có ai đó nói lại với anh. Sáng sớm anh đã chặn cửa Hội chờ anh Sơn đến. Anh Sơn vừa đạp xe đến, anh cầm ghi đông xe chặn lại hỏi, răng mi chê thơ tao?

Anh Sơn vội vàng nói anh đừng nghe chúng nó tào lao, vào đây em hát cái bài em vừa phổ nhạc thơ anh. Anh Sơn vừa hát vừa bịa, nghe cũng du dương phết, Hải Bằng cười nói, bài ni hay, hay hơn Hạ trắng nhiều hi!

Lần đầu mình đến chơi nhà anh, túi găm cái bút bi đỏ. Hồi đó bút bi thuộc loại qúi hiếm, bút bi đỏ càng hiếm. Anh rút cái bút bi đỏ ngắm nghía, khen đẹp rồi nói, tau hí. Anh thản nhiên nhét cái bút vào túi anh, coi như mình rất phấn khởi được tặng anh cái bút.

Về sau mới biết anh nổi tiếng tau hí, gặp ai thấy cái gì hay là anh tau hí rồi lấy như không. Lấy rồi về vứt đấy chẳng dùng, nhiều khi lại mang đi cho người khác, nhưng hễ thấy ai có cái gì hay hay là anh không chịu được, dứt khoát phải tau hí.

Một hôm, ở nhà anh Tường, mình và anh Quán chuẩn bị sang nhà Hải Bằng chơi. Anh Quán nói, có cái chi hay thì bỏ ở nhà nghe, tụi mình sang nhà thằng tau hí đó.

Hải Bằng rụng răng sớm, 40 tuổi đã rụng răng, đến 50 đã phải đeo răng giả. Xưa rất thân nữ nhà thơ Th. Mọi người không biết họ có họ xa với nhau, vẫn trêu chọc họ là yêu, mới bịa ra chuyện cô Th. chơi với Hải Bằng về, thấy cân cấn trong miệng, khạc ra, hoá ra là cái răng Hải Bằng.

Anh Tường bênh, nói, sai rồi… tại Hải Bằng say đọc thơ văng cả răng, nữ nhà thơ Th. nhặt được, nói tau hí. Hải Bằng tiếc lắm nhưng gái xin không lẽ không cho.

Nói vậy thôi chứ Hải Bằng rất hay tặng quà người khác, văn nghệ sĩ ở Huế ai chơi thân với anh ít nhất cũng một lần được anh tặng quà, nhưng cái tật tau hí của anh nổi tiếng đến nỗi người ta cứ đinh ninh hễ gặp anh là thế nào anh cũng tau hí.

Anh Quán kể, Hải Bằng ra Hà Nội, anh tặng Phùng Quán cái bút Kim Tinh rất đẹp. Khi vào Huế, vào nhà thăm Hải Bằng, anh Phùng Quán cố tình găm cái bút Kim Tinh lên túi, mục đích để Hải Bằng cảm động khi thấy Phùng Quán đã gìn giữ nâng niu cái bút của mình.

Nhưng Hải Bằng quên mất đó là cây bút của anh, liền lấy cái bút ngay, nói với Phùng Quán, tau hí!

 

Rút từ Bạn văn 1/ Văn Nghệ

_______________ 

* Hải Bằng là tác giả câu thơ: Khi Việt Nam ngủ, Cu Ba thức/ Giữa thế kỉ này ta đổi canh nhau.

 

 

 

>> XEM CHÂN DUNG & PHỎNG VẤN NHÂN VẬT KHÁC…    

 

Kim Tuấn trời buồn mây trắng bay

NVTPHCM- Nhà thơ Kim Tuấn (1938 – 2003) nổi tiếng từ trước 1975 ở miền Nam, với hai bài thơ quen thuộc được phổ thơ là Anh cho em mùa xuân (nhạc Nguyễn Hiền) Những bước chân âm thầm (nhạc Y Vân). Gần tròn 15 năm ngày nhà thơ Kim Tuấn đột ngột vĩnh viễn ra đi, xin trân trọng giới thiệu lại hai bài viết về ông của Trần Hoàng và Nguyễn Tân Hải. (PH)

Nhà thơ Kim Tuấn

>> Kim Tuấn nỗi nhớ âm thầm

>> Kim Tuấn thơ mùa xuân, thơ phố núi

Còn mãi đó những không gian và tình tự lí

 

TRẦN HOÀNG

 

“Thơ lí và thơ ngắn là tập thơ cuối do anh tự tay chọn lựa và trình bày. Hình như có linh cảm sao đó mà với tập thơ này, anh cứ muốn tôi đề tựa. Thật lòng tôi không dám làm cái việc “vô phép” ấy, nhưng vì sợ anh buồn, tôi đành phải liều viết. Không ngờ, đó là vinh dự và cũng là kỉ niệm cuối cùng mà anh dành cho tôi, thằng em nhỏ của anh.”- Tiến sĩ Trần Hoàng về bài viết sau đây của ông đề tựa tập thơ cuối cùng của nhà thơ Kim Tuấn.

Từ hồi còn trẻ, chúng tôi vẫn thường nghe và nghêu ngao mấy khúc dân ca: “Chiều chiều dắt mẹ (tà là đèo) qua đèo…”, Ơ… ai đem con sáo, sáo (nó) sang sôngĐể cho, để cho con sáo, sáo sổ lồng, sổ lồng (nó) bay xa…”, “Chim quyên quầy, ăn trái quây, nhãn (i) lồng, nhãn (i) lồng, ơ cô bạn mình ơi, ơ cô bạn quen hơi…” dù chưa biết thế nào là lí. Sau này, nhờ học hành, lại biết thêm: Lí chính là một “điệu hát dân gian ngắn, gọn, tính nhạc phong phú và rõ nét, chịu nhiều ảnh hưởng của nhạc đàn” (Từ điển tiếng Việt, Hoàng Phê chủ biên).

 

Rồi trở thành thị dân. Rồi cuốn lao theo cuộc sống, chẳng còn mấy dịp ngâm nga làn điệu lí. Tình cờ một bữa gần đây, được anh Kim Tuấn cho xem một số bài thơ lí thì dường như cả một thời tuổi trẻ, cả vùng quê thiết thân nồng hậu với những Lí qua đèo, Lí con sáoLí chim quyên… đều cùng bật dậy. À, thì ra vẫn còn mãi đó những không gian và tình tự lí…

Chẳng hạn, trong thơ Kim Tuấn, với Ngẫu hứng lí ngựa ô:

 

Đẹp thấy mồ, nên anh ngẩn ngơ

Đêm nào uống rượu, hứng mần thơ

Em ca vọng cổ mùi hết sẩy

Anh chết chìm trong mắt mộng mơ.

 

Hay với Lí mình ên:

“Không ai nhớ ta

Sao ta lại nhớ mình

Nhớ con cá nướng trui

Nhớ nồi canh bông bí

Theo mùa nước về

Ta hát lí lênh đênh”.

 

Ở đây, lí thật ra chỉ là một cái tứ để tác giả bộc bạch những cảm xúc của mình. Nhưng qua khổ thơ, lại hiện ra một không gian diễn xướng phong phú, những tình cảm mộc mạc của người dân quê Nam Bộ.

 

Dẫu là với Lí cây bông, Lí qua cầu, Lí chiều chiều, Lí Quảng Nam, Lí qua đèo, Lí à ơi, Lí lục bình hay với Lí bông mai… thì vẫn vậy. Không phải ca dao, đồng dao, chưa phổ vào làn điệu với những tiếng đệm, tiếng láy, tiếng đưa hơi đặc thù của lí nhưng lời thơ vẫn dạt dào một khúc lí giao duyên. Vẫn cái không gian sông nước quen thuộc, vẫn những hình ảnh dân dã nghĩa tình, vẫn một nỗi buồn mênh mang thương nhớ, và một chút than trách nhẹ nhàng:

 

Chơ reng bậu bỏ tui ri

Bậu về ngoài nớ

Trong ni tui buồn

Sông xa mô biết ngọn nguồn

Cau xanh kết trái

Một buồng cau xanh…

 

(Lí Quảng Nam)

 

Ơi lí cây bông

Câu hát não nề

Ta thương nhau

Mà gần nhau chẳng đặng

Ta thương nhau

Tình sâu nghĩa nặng

Như cây lục bình quấn quít dòng sông…”

(Lí cây bông)

Chợt một hôm nào đó ngồi nghe hát dân ca. Bỗng lẩm nhẩm một vài câu thơ lí…

 

Đầu mùa mưa Sài Gòn 2001

Một nguời bạn, Kim Tuấn, Nguyễn Văn Hiền, Đinh Cường, Hạ Quốc Huy ở Pleiku 1974. Ảnh: TL

Kim Tuấn, từng bước từng bước thầm

 

NGUYỄN TÂN HẢI

 

Được biết nguyên một thời thơ ấu, thời thanh thiếu niên Kim Tuấn sống và lớn lên ở Phan Thiết, tôi tìm đọc thơ ông nhiều hơn. Thế rồi càng đọc càng thương một cõi sống, cõi thơ lành hiền mà tròn đầy, yên vui mà lặng lẽ, giản dị thân quen mà trữ tình, sâu sắc vô cùng. Và tôi vỡ lẽ một điều vì sao bạn yêu thơ trên khắp đất nước này đều yêu mến thơ Kim Tuấn đến vậy.

 

“Từng bước từng bước thầm

hoa vông rừng tuyết trắng

rặng thông già lặng câm

hai đứa nhiều hối tiếc

sương mù giăng mấy đồi

tay đan đầy kỷ niệm

mưa giữa mùa tháng năm

dật dờ cơn gió thổi…”

 

(Kỷ niệm – Kim Tuấn)

 

Bài thơ này được nhạc sĩ  Y Vân phổ nhạc với tiêu đề mới “Những bước chân âm thầm”, cùng với “Anh cho em mùa xuân” phổ từ bài “Nụ hoa vàng ngày xuân” của Nguyễn Hiền là hai ca khúc đi vào lòng người, sống trong lòng người, có thể nói không quá là sống cùng thời gian.

 

Thơ Kim Tuấn còn được rất nhiều nhạc sĩ nổi tiếng khác phổ nhạc, như Phạm Duy với “Khi tôi về”, Lê Uyên Phương với “Khi xa Sài Gòn”, Phạm Đình Chương với “Ta ở trời Tây nhớ trời Đông”, “Nói với mùa thu” do Thanh Trang phổ, “Ga nhỏ chiều mưa”, “Lòng vẫn còn thương”, “Tình vẫn còn thương”, “Tháng đợi năm chờ” do Tấn An phổ, “Còn nhớ còn thương” do Minh Mỹ phổ…

 

Kim Tuấn tên thật là Nguyễn Phước Vĩnh Khuê (sinh năm 1938) tại Huế. Ông là hậu duệ đời thứ năm của Tùng Thiện Vương Miên Thẩm. Thuở nhỏ sống cùng gia đình ở Phan Thiết. Lớn lên vào Sài Gòn học. Kim Tuấn có thơ đăng trên các tạp chí từ những năm 1960 đến mãi sau này. Tập thơ đầu tiên xuất bản là tập “Hoa mười phương”.

 

Năm 1977, ông về Thành phố Hồ Chí Minh làm Hiệu trưởng Trường Anh văn và dạy nghề Thăng Long ở quận 4, một ngôi trường dành cho trẻ em lang thang và dạy học ở đó cho đến cuối đời. Ngày 11/9/2003, sau khi tham dự một buổi văn nghệ phát quà Trung thu cho trẻ em nghèo tại trường do Saigon Children’s Charity tài trợ, ông về nhà ngắm trăng với vợ con rồi đột ngột bị nhồi máu cơ tim và vĩnh viễn rời khỏi trần gian. Ông đã đi xa nhưng thơ ông vẫn ở lại cùng với chúng ta, những vần thơ mượt mà tuyệt diệu.

 

Tôi đặc biệt yêu thích một bài thơ như trào lên từ âm nhạc, cùng âm nhạc của ông:

 

“Anh buồn anh tóc trắng

Trời buồn mây trắng bay

Em ngày nào áo trắng

Vòng hoa trắng trên tay

Anh cuối đời tóc bạc

Nhớ đầu đời tóc xanh

Một đời anh lận đận

Ngày tháng đã qua nhanh

Ngày tháng còn lại gì?

Nụ cười và nước mắt

Khi anh về với đất

Em về hoa trắng bay …

 

(Bài cuối cùng cho em – Kim Tuấn)

______________________________________

Các tập thơ của nhà thơ Kim Tuấn đã xuất bản:

 

Hoa mười phương– Trường Giang 1959

 

Ngàn thương (chung với Định Giang) 1961

 

Dấu bụi hồng – Minh Đức xuất bản 1971

 

Thơ Kim Tuấn 1962 – 1972 – Gìn Vàng Giữ Ngọc 1975

 

Thời của trái tim hồng – NXB Tổng hợp Sông Bé 1990

 

Tuổi phượng hồng – NXB Trẻ 1991

 

Tạ tình phương Nam -1994

 

– Thơ lý và thơ ngắn – NXB Văn nghệ TP.HCM 2002.

 

Con đường… (in chung với con trai Bảo Khôi) – Hội Nhà văn ấn hành 2013

 

Hồ Biểu Chánh đến hiện đại từ truyền thống

Hồ Biểu Chánh – nhà văn

đến hiện đại từ truyền thống

PGS.TS VÕ VĂN NHƠN

NVTPHCM- Trong các nhà văn quốc ngữ tiên phong của Việt Nam, có lẽ không có nhà văn nào có quá trình sáng tác đồng hành gần như sát sao với sự hình thành và phát triển của văn học quốc ngữ Việt Nam như Hồ Biểu Chánh. Sức hấp dẫn của tiểu thuyết Hồ Biểu Chánh là ở chỗ tác giả đã đến hiện đại từ truyền thống, nên đã được quần chúng độc giả đồng cảm, chia sẻ. Tiểu thuyết của ông gần gũi với truyền thống, tâm lý của nhân dân Nam Bộ nên đã nhanh chóng đi vào và sống lâu dài trong lòng người đọc Nam Bộ.

Trong các nhà văn quốc ngữ tiên phong của Việt Nam, có lẽ không có nhà văn nào có quá trình sáng tác đồng hành gần như sát sao với sự hình thành và phát triển của văn học quốc ngữ Việt Nam như Hồ Biểu Chánh.

So với Nguyễn Trọng Quản chẳng hạn, con đường đi của Hồ Biểu Chánh đến với tiểu thuyết hiện đại có phần chậm chạp nhưng phù hợp và chắc chắn hơn. Là một trí thức tân học, nhưng vì “nhận thấy muốn viết Việt văn thì cần phải biết chữ Hán, bởi lẽ biết chữ Hán mới có đủ chữ mà dùng và dùng cho khỏi sai nghĩa. Vì thế, ông đã dành gần ba năm để học các sách Đại học, Trung dung, Luận ngữ, Mạnh tử(1). Chính cái vốn Hán học đã giúp ông sau này tham gia vào phong trào dịch tiểu thuyết Trung Hoa và làm quen với nghệ thuật tiểu thuyết.

Qua thực tiễn sáng tác của mình, Hồ Biểu Chánh thực sự đã trả lời được câu hỏi viết cho ai. Biết rõ thị hiếu của người đọc Nam Bộ lúc đó vẫn còn ưa chuộng truyện thơ viết bằng thể lục bát, vẫn thích đọc những gì gần gũi với mình nên ông đã bắt đầu sự nghiệp văn học của mình bằng truyện thơ U tình lục (viết 1909, in 1913), một quyển tiểu thuyết viết bằng văn vần chịu nhiều ảnh hưởng từ Truyện Kiều của Nguyễn Du và cũng rất gần với Lục Vân Tiên của Nguyễn Đình Chiểu trong mọi phương diện như đề tài, ngôn ngữ nghệ thuật, bố cục, khuynh hướng tư tưởng.

 

Tuy vậy U tình lục cũng đã có những điểm mới so với truyện thơ cổ điển. Trước hết là nó đã được viết bằng chữ quốc ngữ. Nhân vật của truyện cũng là nhân vật Việt Nam, của Gia Định chứ không phải là vay mượn từ tích truyện của Trung Quốc. Ông miêu tả sự bóc lột tàn ác của bọn chủ người Hoa lai Ấn và lòng tham lam, sự thối nát của bọn địa chủ, của các công chức địa phương. Tình yêu của hai nhân vật chính rất mới mẻ và có những hành động táo bạo vượt ra ngoài lễ giáo phong kiến. Tác phẩm này đánh dấu giai đoạn quá độ từ truyện Nôm cổ điển sang tiểu thuyết hiện đại.

Sau U tình lục, Hồ Biểu Chánh viết truyện thơ Vậy mới phải (viết 1913, in 1918) phỏng theo Le Cid của P. Corneille, một vở bi kịch nổi tiếng của Pháp. Về hình thức, truyện thơ này vẫn giữ bố cục của một truyện thơ Nôm. Truyện lấy lịch sử đời Lê làm bối cảnh, tình tiết câu chuyện, tư duy, hành động và ngôn ngữ của các nhân vật đều có tính sáng tạo và được Việt hóa. Vậy mới phải đánh dấu bước chuyển mô phỏng tác phẩm văn học Pháp và hoàn toàn có màu sắc Việt Nam. Với Vậy mới phải, có thể nói Hồ Biểu Chánh là nhà văn Việt Nam đầu tiên mô phỏng một tác phẩm của văn chương Pháp.

Nhưng rồi tiểu thuyết Pháp và các tác phẩm văn xuôi quốc ngữ đầu tiên đã có sự cuốn hút đối với ông. Trong hồi ký Đời của tôi về văn nghệ, Hồ Biểu Chánh cho rằng có ba tác phẩm ảnh hưởng nhiều đến việc chuyển hướng sáng tác của ông, đó là truyện Thầy Lazarô Phiền của Nguyễn Trọng Quản, Hoàng Tố Anh hàm oan của Trần Thiên Trung và Phan Yên ngoại sử của Trương Duy Toản(2), trong đó ông chú ý đặc biệt đến Hoàng Tố Anh hàm oan.

Vì sao Hồ Biểu Chánh lại quan tâm đặc biệt đến Hoàng Tố Anh hàm oan mà không phải là truyện Thầy Lazarô Phiền của Nguyễn Trọng Quản. Đó là bởi truyện Thầy Lazarô Phiền của Nguyễn Trọng Quản quá hiện đại từ kết cấu cho đến ngôn ngữ, hiện đại trong miêu tả tâm lý nhân vật. Nó được sáng tác trong hoàn cảnh tách rời với sinh hoạt văn học của nước ta lúc đó vốn vẫn còn chịu ảnh hưởng nhiều của văn chương Trung Hoa, vì thế đã không được quần chúng đón nhận. Người bình dân Nam Bộ xưa nay chỉ quen thưởng thức truyện hoặc bằng thơ lục bát, hoặc bằng văn có đối có vần lúc đó khó có thể chấp nhận “cái tiếng nói thường” ấy của Nguyễn Trọng Quản. Tâm lý của nhân vật cũng không phù hợp với công chúng bình dân Nam Bộ, chủ đề “phạm tội và sám hối” của Kitô giáo lại càng xa lạ đối với họ. Rồi còn cái kết thúc của câu chuyện, người Nam Bộ lâu nay quen với quan niệm “ở hiền gặp lành”, quen với kết thúc của hậu của truyện thơ truyền thống, nên khó có thể chấp nhận cái chết của người vợ hiền lành, chung thủy của thầy Phiền, trong khi đó kẻ gây ra tội ác là vợ tên quan ba lại không bị trừng phạt gì cả. Nói theo Bằng Giang, Thầy Lazarô Phiền như “một con chim lạ từ phương Tây đáp xuống một vùng đất còn vắng bóng đồng loại. Bởi lẽ đó, nó nổi lên như một ốc đảo chơi vơi vào nửa sau thế kỷ XIX không riêng ở Nam Bộ mà còn ở cả Việt Nam” (3).

Còn Hoàng Tố Anh hàm oan, theo Nguyễn Khuê, đó là:

Một tiểu thuyết phong tục với cốt truyện ly kỳ và lời văn bình dị, tác giả của thuyết nhân quả mà cho người phải chung cuộc được hiển vinh, kẻ quấy cuối cùng chịu quả báo, khiến Hồ Biểu Chánh quyết định viết tiểu thuyết theo đường lối ấy để cảm hóa quần chúng mà đưa họ trở lại con đường nghĩa nhân chính trực (4).

Tác giả của Hoàng Tố Anh hàm oan còn là một nhân vật đặc biệt, Trần Thiên Trung là bút danh của “ông Phủ Minh Tân” Trần Chánh Chiếu, lãnh tụ của phong trào Minh Tân ở Nam Bộ, chủ nhân của Chiêu Nam Lầu ở Sài Gòn và Minh Tân khách sạn ở Mỹ Tho vào đầu thế kỷ XX, từng bị thực dân Pháp bắt giam nhiều lần.

Là một người tâm đắc với chủ nghĩa hiện thực, Hồ Biểu Chánh đã bị thuyết phục bởi tiểu thuyết hiện thực đầu tiên đó của văn học Việt Nam:

Cụ Trần Chánh Chiếu cho xuất bản Hoàng Tố Anh hàm oan là tiểu thuyết đầu tiên trong lục tỉnh, truyện tinh tả nhân vật trong xứ và viết theo điệu văn xuôi. Đọc quyển này, cảm thấy viết truyện bằng văn xuôi dễ cảm hoá người đọc hơn, bởi vậy năm 1912 đổi xuống làm việc tại Cà Mau mới viết thử quyển Ai làm được là quyển tiểu thuyết thứ nhất viết văn xuôi tại Cà Mau với những nhân vật cũng là Cà Mau(5).

 

Phạm Minh Kiên trong một bài báo trên Đông Pháp thời báo còn nói rõ về “điệu văn chơn tả ”bắt chước theo tiểu thuyết Pháp của Hồ Biểu Chánh:

Ông Hồ Biểu Chánh… ông thường nói rằng ông thấy văn chương Pháp, từ nửa thế kỷ 19 trở lại đây, có nảy ra một điệu văn mới là điệu “chơn tả” công chúng đều ưa lắm. Ông ước ao cho văn sĩ Annam ta bắt chước theo điệu văn ấy mà viết tiểu thuyết…(6)

Thử nghiệm đầu tiên theo hướng này của Hồ Biểu Chánh là tác phẩm Ai làm được đăng feuilleton trên báo Nông cổ mín đàm từ 1919. Cuốn tiểu thuyết văn xuôi đầu tay này của Hồ Biểu Chánh vẫn mang dáng dấp của một truyện tài tử giai nhân truyền thống với một kết thúc có hậu khi hai nhân vật chính Chí Đại và Bạch Tuyết, sau khi vượt biết bao gian truân, cuối cùng đã đoàn tụ và sắt cầm hòa hiệp.

Nhưng so với truyện thơ truyền thống, Ai làm được cũng đã có khá nhiều điều mới mẻ. Ngay nhan đề, dưới hình thức một câu hỏi đã là một điểm mới. Ngôn ngữ của Ai làm được thật sự là ngôn ngữ của người Nam Bộ, cụ thể là của người Cà Mau. Ngôn ngữ của các nhân vật là ngôn ngữ của cuộc đời thường, không điển tích văn hoa, không chen thơ thẩn, văn vần vào. Mối tình của hai nhân vật chính cũng rất đời chứ không quá ràng buộc vào lễ giáo phong kiến. Là một truyện nửa ái tình, nửa phiêu lưu mạo hiểm, Ai làm được còn là một bức tranh hiện thực về cuộc sống của người dân Nam Bộ vào đầu thế kỷ. Ai làm được đã dọn đường cho độc giả Nam Bộ đón nhận một thể loại văn học mới, đó là tiểu thuyết hiện đại. Đây có lẽ là một tác phẩm có ý nghĩa đối với đời viết văn của Hồ Biểu Chánh nên nhiều năm sau, mặc dù đã có khá nhiều tiểu thuyết khác được ra mắt bạn đọc, nhưng ông vẫn sửa chữa, nhuận sắc lại tác phẩm này để làm cho nó gần hơn với tiểu thuyết hiện đại. Từ một cuốn truyện với 27 hồi, ông đã rút lại thành 6 chương. Thay cho những câu tóm tắt chuyện ở đầu chương là một con số giản dị. Ông cũng từ bỏ lối kể chuyện theo đường thẳng để kể chuyện một cách hiện đại hơn và thêm nhiều đoạn tả cảnh và nhiều đối thoại để làm cho câu chuyện thêm sinh động.

Sau Ai làm được là thời kỳ mô phỏng các tiểu thuyết của Pháp để sáng tác của Hồ Biểu Chánh. Trong hồi ký Đời của tôi về văn nghệ, Hồ Biểu Chánh có liệt kê đến 12 tác phẩm được “viết ra bởi cảm tác phẩm nào của Pháp”(7), như Chúa Tàu Kim Quy là bởi cảm Le Comte de Monte Cristo của Alexandre Dumas, Cay đắng mùi đời  là từ Sans Famille của Hector Malot,…

Nhưng nếu xem xét kỹ các tác phẩm này, ta thấy Hồ Biểu Chánh không chỉ mô phỏng. Cay đắng mùi đời theo sát từng nhân vật, từng tình tiết truyện Sans Famille của Hector Malot. Song đến Ngọn cỏ gió đùa, ta chỉ còn thấy phảng phất bóng dáng truyện Les Miserables của Victor Hugo mà thôi. Và ngay cả trong Cay đắng mùi đời , ta vẫn chỉ thấy một không khí Nam Bộ, những tích cách rất Nam Bộ của các nhân vật.

Và Hồ Biểu Chánh không chỉ có các tác phẩm được viết ra do mô phỏng các tác phẩm của Pháp. Ngoài 12 cuốn được nói trên, Hồ Biểu Chánh còn viết trên 50 quyển tiểu thuyết khác, một số lượng tác phẩm đồ sộ so với cuộc đời sáng tác của một nhà văn. Có thể nói tiểu thuyết của ông là một bộ từ điển bách khoa về đời sống xã hội Nam Bộ nửa đầu thế kỷ XX, và ông, có thể được xem như là Balzac của Nam Bộ. Không phải ngẫu nhiên mà các tác phẩm của ông đến nay vẫn còn được tái bản nhiều lần, được dựng thành phim truyền hình đến hàng trăm tập. Không phải tình cờ mà ông được xem là nhà văn tiêu biểu nhất của Nam Bộ và có một chỗ đứng trang trọng trong các công trình khảo cứu của cả trong Nam lẫn ngoài Bắc từ trước 1945 cho đến sau này như các công trình của Thiếu Sơn, Vũ Ngọc Phan, Phạm Thế Ngũ… Yêu mến ông, hai Việt Kiều Trang Quang Sen và Phan Tấn Tài ở Cộng Hòa Liên bang Đức đã thành lập trang web hobieuchanh.com nhằm để phổ biến các tác phẩm của nhà văn Hồ Biểu Chánh cho các bạn yêu văn học. 100 năm sau khi U tình lục ra đời, GS Nguyễn Văn Sâm, nguyên GS Đại học Văn Khoa Sài Gòn, nguyên giáo sư trường Nguyễn Đình Chiểu Mỹ Tho, với sự giúp đỡ của Viện Việt Học California, đã cho in lại U tình lục với tựa mới là Kể chuyện tình buồn, kèm theo phần giới thiệu và chú giải rất công phu.

Giáo sư Nguyễn Văn Trung, nguyên Khoa Trưởng Trường Đại học Văn Khoa Sài Gòn đã viết về chuyện đọc Hồ Biểu Chánh như sau: “Dạy văn học trên 20 năm ở miền Nam, nhưng mới chỉ đọc Hồ Biểu Chánh gần đây vì trước đây khinh chê, không thèm đọc”. Sau khi đọc xong, ông nhận thấy tiểu thuyết của Hồ Biểu Chánh thật cảm động, thật hay, thật hấp dẫn. Một người bạn lớn tuổi của ông đã thú nhận với ông “chả nhẽ, tôi trên 60 tuổi rồi mà còn nói bị xúc động như muốn rơi nước mắt” và ông đặt ra câu hỏi “Tại sao một cuốn truyện, sau hơn nửa thế kỷ, vẫn còn hấp dẫn, gây xúc động với một người ở địa phương khác với địa phương của tác giả?”(8).

Sức hấp dẫn ấy của tiểu thuyết Hồ Biểu Chánh, đó chính là vì tác giả đã đến hiện đại từ truyền thống, nên đã được quần chúng độc giả đồng cảm, chia sẻ. Hồ Biểu Chánh là một nhà văn hiện đại nhưng lại không xa lạ với văn học truyền thống. Tiểu thuyết của ông cơ bản là dựa vào kỹ thuật của tiểu thuyết phương Tây, nhưng vẫn còn mang ít nhiều tính chất cổ điển và vẫn tiếp nối truyền thống chuyên chở đạo lý, quảng bá đạo đức của văn chương truyền thống. Và điều quan trọng là nó gần gũi với truyền thống, tâm lý của nhân dân Nam Bộ nên đã nhanh chóng đi vào và sống lâu dài trong lòng người đọc Nam Bộ.

____________________

 

Chú thích:

 

1 Nguyễn Khuê (1998), Chân dung Hồ Biểu Chánh, NXB TP Hồ Chí Minh, tr. 23.

2 Nguyễn Khuê, sđd, tr. 25.

3 Bằng Giang (1992), Văn học quốc ngữ ở Nam Kỳ 1865 – 1930, Nxb Trẻ, Thành phố Hồ Chí Minh,

4 Nguyễn Khuê, sđd, tr. 25-26.

5 Vương Trí Nhàn (sưu tầm và biên soạn) (1996), Khảo về tiểu thuyết, Nxb Hội Nhà văn, Hà Nội, tr. 29.

6 Phạm Minh Kiên, Giải chỗ tưởng lầm, Đông Pháp thời báo, số 468, 6.8. 1926.

7 Nguyễn Khuê, sđd, tr. 143.

8 Cao Xuân Mỹ, (1999), Văn xuôi Nam bộ nửa đầu thế kỷ XX, NXB Văn nghệ TP HCM & Trung tâm Nghiên cứu Quốc học, tr. 677.

 

 

>> XEM CHÂN DUNG & PHỎNG VẤN NHÂN VẬT KHÁC…   

Nguyễn Quang Sáng cánh chim sếu đầu đỏ

 

Nguyễn Quang Sáng

Cánh chim sếu đầu đỏ Đồng Tháp Mười

 

ĐOÀN MINH TUẤN

 

NVTPHCM- Tài năng và tác phẩm của Nguyễn Quang Sáng không chỉ được ghi nhận bằng những đánh giá cao của các đồng nghiệp, nhà văn đàn anh đàn chị hay các giải thưởng mà còn là nhà văn được yêu mến trong hầu khắp bạn đọc nhiều thế hệ…

 

Tôi chơi với Nguyễn Quang Sáng từ những năm mới tập kết ra Hà Nội, cùng ở Đài Tiếng nói Việt Nam. Hồi ấy tôi hay cùng anh đến chơi với Đoàn Giỏi ở Cổ Tân, cùng đàm đạo văn chương, thế sự mỗi lúc nhớ nhà, nhớ quê hương miền Nam. Chính quãng thời gian “đêm Nam, ngày Bắc” ấy, chúng tôi càng hiểu, quý mến nhau hơn.

 

Còn nhớ, lúc bấy giờ, tôi cùng Nguyễn Quang Sáng đã rời khỏi quân ngũ, cùng làm biên tập cho Đài Tiếng nói Việt Nam. Nguyễn Quang Sáng viết “Con chim vàng” đăng ở Báo Văn nghệ, Nguyễn Tuân đọc được, cụ khen anh như con gà chọi đủ lông, đủ cánh, cựa sắc nhọn, có thể ra trường đấu được. Điều  này đồng nghĩa là Nguyễn Quang Sáng tự chọn cho mình miếng võ riêng, có thể đấu với văn chương chuyên nghiệp.

 

Nhận định của cụ Nguyễn trở thành sự thực. Khi tôi làm ở Báo Thống Nhất, anh về Báo Văn nghệ và liên tục gặt hái nhiều giải thưởng. Truyện “Ông Năm Hạng”, anh viết về ông già Nam Bộ kiên cường, giành giải nhất truyện ngắn của Báo Thống Nhất. Sau này, “Dòng sông thơ ấu” anh viết về dòng sông quê anh cũng giành giải thưởng của Hội đồng văn học thiếu nhi Hà Nội. Hàng loạt giải thưởng khác cũng đã được trao cho Nguyễn Quang Sáng, đặc biệt trong đó có Giải thưởng Hồ Chí Minh về văn học nghệ thuật năm 2000. Đây là giải thưởng cao quý nhất về văn chương cách mạng nhưng quý hơn nữa là bởi, Nguyễn Quang Sáng là một trong những người đầu tiên của Nam Bộ thành đồng được nhận giải thưởng này.

 

Trở lại chuyện cụ Nguyễn Tuân, sau “Con chim vàng” và “Đất lửa”, cụ Nguyễn thương Sáng như người nhà, xem chúng tôi như em út. Mãi sau này, khi tôi viết sách về cụ, cụ vẫn thường bảo tôi: “Sáng như con chim vàng sải cánh trên cánh đồng lúa mênh mông của Nam Bộ, có thể bay cao đó!”. Khi đưa ra những nhận định về Sáng, cụ Nguyễn thường có những đánh giá rất cao: Nguyễn Quang Sáng, ngòi bút sắc sảo và đậm đà sắc màu miền Tây Nam Bộ, tiêu biểu cho châu thổ sông Chín Rồng cuộn sóng…

Tài năng và tác phẩm của Nguyễn Quang Sáng không chỉ được ghi nhận bằng những đánh giá cao của các đồng nghiệp, nhà văn đàn anh đàn chị hay các giải thưởng mà còn là nhà văn được yêu mến trong hầu khắp bạn đọc nhiều thế hệ. Còn nhớ, những ngày đầu giải phóng Campuchia, tôi với anh đi máy bay từ đất bạn về Tân Sơn Nhất. Máy bay bị trục trặc. Sau mấy tiếng đồng hồ chờ đợi, sốt ruột, anh và tôi đã định về bằng đường bộ. Trước khi về, anh gọi điện cho người bạn chiến đấu lái máy bay, không ngờ chuyện đến tai nhiều người khác. Nhiều đồng chí ở sân bay bảo ai chớ nhà văn Nguyễn Quang Sáng về thì phải đảm bảo chớ. Kết quả là chúng tôi được ưu tiên sắp xếp về quê sớm nhất. Chỉ có điều, khi đến sân bay, vì chúng tôi mua quà về hơi nhiều nên cân hơi nặng, vượt mức cho phép. Biết tiếng nhà văn Nguyễn Quang Sáng, cô nhân viên cân hành lý ưu tiên không tính tiền cước, còn bảo đồng nghiệp: “Bản thảo của nhà văn mà”!

Một chuyện vui khác về nhà văn và bạn đọc mà tôi được chứng kiến là cùng anh ngồi xe hơi chạy lòng vòng ở Hà Nội. Xe chở quá số người quy định, bị anh công an thổi còi phạt. Nguyễn Quang Sáng xuống nói chuyện. Nhận ra nhà văn, anh Công an nói anh từng đọc và học “Chiếc lược ngà” của nhà văn từ ngày còn là học sinh phổ thông. Quay sang đồng nghiệp, anh bảo, đại ý: “Thôi, không phạt nhà văn viết bài cho nhà trường dạy”.

 

Thực ra, để có được văn nghiệp đáng tự hào như hiện nay, với Nguyễn Quang Sáng là cả một chuỗi những tháng ngày lao động cực kỳ nghiêm khắc. Tôi còn nhớ, sau một thời gian gắn bó với anh ở Hà Nội, Nguyễn Quang Sáng đi B (trở lại chiến trường miền Nam). Tôi vào sau nhưng chúng tôi vẫn thư từ cho nhau. Khi giải phóng miền Nam, tôi và anh xuống Tân Sơn Nhất, anh không đi ôtô mà cùng tôi thuê xe xích lô máy chạy quanh các quận. Anh bảo: “Phải đi thế này mới quan sát hết được”. Hai anh em đi thực tế nên từ sân bay về đến nơi hẹn không xa mà đến mãi chiều mới tới nơi.

 

Sau giải phóng, tôi và anh lại được sắp xếp ở chung một mái nhà tại 148 Võ Văn Tần. Đây là tòa nhà do Tuyên huấn Thành ủy tiếp quản. Tòa nhà như là “chiêu đãi sở” của anh và tôi, dành để tiếp nhiều bạn văn: Nguyễn Tuân, Tô Hoài, Nguyễn Đình Thi, Nguyễn Văn Bổng… Ở hơn 10 năm trời thì chúng tôi về quận 7. Tuổi đã cao nhưng anh và tôi vẫn thường xuyên vắng nhà, đi đó đi đây, vừa thực tế nông thôn, vừa tìm cảm hứng sáng tác. Anh thường đưa tôi về Chợ Mới quê anh, nơi có “Dòng sông tuổi thơ”, nơi có ngọn cờ đỏ sao vàng treo từ năm 1930, nơi anh sinh ra và lớn lên, đi kháng chiến, nơi đồng bào anh đã sống, chiến đấu mấy chục năm tròn. Chỉ trước mấy tháng anh mất, anh còn bảo tôi sẽ đi Hà Nội một chuyến “trối già”, có thể là vào tháng 10.2014 nhân dịp nhận Huy hiệu 65 năm tuổi Đảng.

Thế mà, cuối ngày 13.2.2014, tôi đã mong mình nhầm trước tin anh mất. Cùng Nguyễn Duy, Lê Quang Trang vuốt mắt cho anh, chúng tôi thầm cầu nguyện “người lính già kể chuyện chiến đấu kiên cường của Nam Bộ thành đồng” thanh thản ở nơi chín suối. Anh đã 60 năm cầm bút không lúc nào ngơi nghỉ. Thay nén nhang thơm, chúng tôi xin tiễn biệt anh về với thế giới người hiền. Về với Nguyễn Tuân, Đoàn Giỏi, Nguyễn Đình Thi… anh nhé.

Khóc anh một chiều xuân lạnh.

TP Hồ Chí Minh, ngày 14 tháng 2 năm 2014

 

 

>> XEM CHÂN DUNG & PHỎNG VẤN NHÂN VẬT KHÁC…