Bữa Tiệc Đôi Ta Sáng Nước Mây

Bài thơ Bữa Tiệc Đôi Ta Sáng Nước Mây (Xuân Diệu), tác giả viết về một buổi tiệc ân tình giữa thiên nhiên. Mở đầu bài thơ đã nói về bữa tiệc, khách dự là trời và đất, nhưng con cá bạc thung thăng lội dưới dòng, con chiền chiện hót từng không, một bữa tiệc tâm hồn đãi núi sông.

Bữa Tiệc Đôi Ta Sáng Nước Mây (Xuân Diệu)

Bữa tiệc đôi ta sáng nước mây
Ta mời trời dự đất vui lây
Trải hàng cây cả xăm xăm biếc
Lượn khúc đường non thắm thắm hây

Cá bạc thung thăng lội dưới dòng
Bỗng con chiền chiện hót từng không;
Sớm nay ta đã ra ngoài nội
Mở tiệc tâm hồn đãi núi sông

Bữa tiệc đôi ta mới mẻ hoài,
Thêm màu lên cả sắc hoa tươi,
Nghe say tiếng nói người trên bến
Say bước người đi chợ sớm mai

Bữa tiệc đôi ta sao lấp lánh
Bởi vì đôi mắt em đen nhánh
Hàng mi chớp chớp ánh dương tung
Lá cỏ, hạt sương đều mọc cánh.

Trời có mây cao với gió thanh
Đất đầy sự nghiệp những tay lành
Cũng như phơi phới đi vào tiệc
Bữa tiệc đôi ta: một tấm tình

(8-1-1965)

Bữa tiện đôi ta sao lấp lánh, bởi vì đôi mắt em đen nhánh, hàng mi chớp chớp ánh dương tung. Bạn có cảm nhận gì về bài thơ này, để lại đóng góp của bạn ngay dưới đây nhé.

Bức Tượng

Bài thơ Bức Tượng (Xuân Diệu), tác giả viết về bức tượng trong thương nhớ. Mở đầu bài thơ là một lần đến thăm của cô gái, chàng trai vẫn trong mại một hình bóng. Những đoạn thơ tiếp theo là đôi lần gặp cô gái ở một bến đò, một lần ở chân ngọn núi xanh, gặp em bên bờ biển sóng xao, gặp em dưới một trời sao… những lần gặp đều để lại chàng trai một thương nhớ không nguôi.

Bức Tượng (Xuân Diệu)

Em đến thăm anh trên đôi dép cao su
Em đã vào nhà mà anh còn thấy bóng em in trên trời rộng

Khuôn mặt nhìn nghiêng dáng mũi cao
Bấy lâu trong nhớ đẹp làm sao

Anh đã gặp em ở một bến đò
Thương nhớ bao la – trên dòng sông vắng
Phong cảnh đã vào chiều, trời hiu hiu nắng
Cây đôi bờ đứng lặng, nặng hồn xa…

Anh đã gặp em ở chân ngọn núi xanh
Núi sẫm biếc như mùa thu đọng lại
Trong thung lũng hoang sơ, ngô lay cờ – rộng rãi
Phân ngô còn đượm mãi hồn ta.

Anh đã gặp em bên bờ biển sóng xao
Phi lao rì rào hồn trao cho gió
Bờ cát mịn dạt dào sóng vỗ
Niềm ân tình vạn thuở chẳng hề vơi.

Anh đã gặp em dưới một trời sao
Và đôi mắt em in vào vũ trụ
Anh ngợi giữa muôn vàn tinh tú
Đêm mơ màng thơm hương áo của em…

Từ lúc yêu em, ngay sau buổi gặp đầu tiên
Anh đã tạc hình ảnh của em trên nền thương nhớ
ở đâu có nhớ thương, anh đã đặt tượng em vào đó
Nên bây giờ anh nhớ: đã gặp em

Bến Thần Tiên

Bài thơ Bến Thần Tiên (Xuân Diệu), tác giả viết về một bến thần tiên. Mở đầu bài thơ là mượn thời gian để nói với cô gái chở hộ sang bến thần, trên bến chỉ có ta và nàng, sao nghe nhân loại hòa ca với mình, không gian không hoa cũng cũng chẳng lá cành mà cô nàng đã tạo thành một sắc duyên.

Bến Thần Tiên (Xuân Diệu)

Xin em nói với thời gian
Ghé thuyền chở hộ ta sang bến thần
Lên bờ vừa mới đặt chân
Nước non đâu bỗng trong ngần gần xa.

Quanh mình cũng chỉ có ta
Sao nghe nhân loại hoà ca với mình
Không hoa, cũng chẳng lá cành
Mà sao em đã tạo thành sắc duyên

Tạo hình gió thoảng, trăng lên
Hoa bên bờ suối, mây trên đá gành,
Một mình em sáng tạo anh
Một mình em sáng tạo thành đôi ta.

Thời gian rót xuống dần dà
Một bình êm dịu bao la đất trời
Trải bao đau khổ trong đời
Mới dành cho phút được ngồi bên em

Bài thơ có thể nói về tơ duyên của chàng trai và cô gái, trải qua đau khổ trong đời, mới dành cho phút được ngồi bên em. Bạn có cảm nhận gì về bài thơ này, để lại đóng góp của bạn ngay dưới đây nhé.

Bác Đi Xa Cháu, Nhớ Ghê

Bài thơ Bác Đi Xa Cháu, Nhớ Ghê (Xuân Diệu), tác giả viết về hai bác cháu Vũ. Mở đầu bài thơ là thương nhớ khi hai bác cháu xa nhau, sau đó là người cháu lên năm và lớn khôn, bài thơ viết về thời gian hai bác nhau bên nhau, sự tinh nghịch của cháu là những gì bác của Vũ nhớ mãi, khi gần thì bác giận bác la, khi xa bác lại rất nhớ thương.

Bác Đi Xa Cháu, Nhớ Ghê (Xuân Diệu)

Bác đi xa cháu, nhớ ghê
Thằng cu Vũ, bác chưa về được thăm.
Bây giờ cháu đã lên năm,
Từ khi nhỏ xíu cháu nằm trên tay,
Bác rất yêu cái thằng này,
Tưởng như có cháu là hay trên đời.
Bác xem là một con người
Còn non, đang bú tay, vòi đó thôi;
Có khi bác đứng bên nôi
Muốn đưa cho cháu cõi đời đẹp hơn.
Bây giờ cháu đã biết khôn
Bác ngồi làm việc, cháu luôn chạy vào
Bày trò chơi nhởi lao xao,
Đang chơi dở cuộc, lại ào chạy ra;
Lấy chăn phủ ghế chui qua,
Ngăn bàn thích lục, tranh gà thích xem:
Xếp rồi, cháu lại đảo lên,
Có ngày bác phải mười phen dọn nhà:
Khi gần, bác giận bác la,
Đi xa, bác lại nhớ mà rất thương.

Chiêm bao thấy cháu đêm trường
Bác hôn mặt Vũ như gương sáng bừng.
Hôm về bác cháu ta mừng,
Bác cho trăm thứ trong rừng Quì Châu.

(Quì Châu 20-5-1963)

Bảo Ninh & Ngày hoà bình đầu tiên

 Nhà văn Bảo Ninh

Ngày hoà bình đầu tiên

BẢO NINH

NVTPHCM- Chiến quả đầu tiên của lính ta trong buổi chiều tối ngày 30 tháng 4 là giấc ngủ. Khắp nơi trong nhà ga sân bay Tân Sơn Nhất la liệt những cánh võng. Nhưng tôi với Quang và Nghi không được cái sướng ấy. Nhận lệnh trực tiếp từ Chính ủy Hòe, chúng tôi phải đưa hai đứa bé bị lạc ở cửa Phi Long về với gia đình. Bố mẹ của hai đứa chở chúng tới cửa phi trường, để chúng lại trong xe, họ nhào vào nhà ga, rồi không thấy quay ra. Chúng bị bỏ rơi tại đấy giữa cảnh pháo dập đạn lia suốt từ  sáng ngày 29 tới tận trưa ngày 30!

 

Chúng tôi kiếm trong bãi xe vô chủ một chiếc Jeep lùn và nhặt trong đám dù vừa đầu hàng một tay tài xế, rồi cùng hai đứa nhỏ rời sân bay. Thành phố lớn lao, chằng chéo muôn ngả. Tay lính dù lại là dân quê chẳng rành gì đường xá Sài Gòn, cứ lái phập phù. Mà tiếng súng, không rõ ràng là chỉ thiên hay bắn thẳng thì càng lúc càng rộ. Ngồi trên xe, ba chúng tôi AK vẫn lăm lăm dò dẫm qua từng ngã tư, ngã năm, ngã bảy, chỗ đông nghịt người xe ùn tắc, chỗ vắng tanh. Mãi 9 giờ tối mới thấy biển đề tên đường Đồng Khánh. Tìm đúng số nhà, chúng tôi vào, bấm chuông, cẩn thận “bàn giao” hai đứa bé cho người thân xong là quay ra luôn. Chiếc Jeep đã cạn xăng, chúng tôi trả tự do cho tay tài xế rồi đi bộ về sân bay. Một quãng đường ngoắt nghoéo và rất xa từ dưới tít phía nam lên thấu mạn bắc thành phố.

Ngủ vùi đến giữa buổi sáng mùng 1 tháng 5 thì tôi phải cuốn võng, tức tốc ra xe lên trình diện Sư bộ cũng đóng trong sân bay. Nhận một bộ tô châu mới tinh, một mũ cối cũng mới cứng, giày vải đế cao su thay cho dép đúc, băng đỏ đeo vào tay, tôi thành lính “quân cảnh” của Quân đoàn. Sở dĩ thế là do trong suốt 3 tháng trước trận Buôn Ma Thuột tôi đã được điều tạm thời vào Đoàn 93. Nhiệm vụ của Đoàn 93 dạo đó là tuần tra kiểm soát miền rừng trên đôi bờ Đắc Đam để ngăn ngừa mọi biểu hiện vi phạm kỉ luật bảo mật chiến dịch có thể nảy sinh trong vùng ém quân. Nay, không chỉ Buôn Ma Thuột mà cả Sài Gòn quân ta cũng đã dứt điểm xong, chúng tôi lại về với nhiệm vụ gần giống dạo đó.

Thành thử, chăm sóc trẻ con, đấy là nhiệm vụ cuối cùng của tôi trong ngày cuối cùng của cuộc chiến, còn nhiệm vụ đầu tiên trong ngày hòa bình là làm kiểm soát quân nhân, cũng khá giống với sự chăm sóc: ấy là kiểm tra đôn đốc việc gìn giữ quân phong quân kỉ.

Ngay sau buổi trưa ngày 30, bộ đội Quân đoàn 3 đã lập tức triển khai công tác ổn định đời sống nhân dân tại phụ cận những nơi đóng quân: phi trường Tân Sơn Nhất, Bộ Tổng tham mưu… tức là cả một vùng rộng lớn tây bắc Sài Gòn. Lính ta dốc sức khẩn trương thu dọn bãi chiến trường trải dài trên con đường hành tiến tốc chiến dọc suốt hai ngày 29 và 30, sửa chữa hệ thống điện nước bị trúng bom và pháo, trực tiếp chỉ huy giao thông, trấn giữ và tuần tra các phường phố để bảo đảm an ninh trật tự cho đời sống dân sự thường nhật. Riêng chúng tôi, kiểm soát quân nhân, cũng đi tuần tra, nhưng “đối tượng” kiểm tra là lính mình.

Tổ tuần tra hỗn hợp gồm tôi lính E24, Huy lính pháo E40 và Bính xe tăng 273, với một tổ ba người khác nữa, phụ trách khu vực quanh Lăng Cha Cả. Bính là tổ trưởng, K54 và xà cột đeo bên hông, tôi với Huy khoác AK Tiệp đi cận vệ anh. Kiểm soát quân nhân được lệnh thay AK Nga bằng AK báng nhựa của Tiệp chắc là để cho dáng vẻ nom dịu nhẹ hơn khi đi tuần dọc phố xá đông người. Súng không được lên đạn, khóa nòng cũng phải cẩn thận đóng lại. Và không mang lựu đạn. Lệnh thế. Vì hòa bình rồi.

Hòa bình rồi. Như trẩy hội. Bùng binh Lăng Cha Cả, đường Trương Minh Ký, đường Võ Tánh, ngã tư Bảy Hiền, dân chúng dạt khỏi vùng chiến sự nay trở về, nườm nượp. Bộ đội cũng rất đông. Bởi vì quân ta dứt điểm Sài Gòn bằng chủ yếu lực lượng của Thê đội 1, nên tới chiều 30, các đơn vị Thê đội 2 mới vào. Nhất là trong ngày 1 tháng 5, tăng, pháo, bộ binh rầm rập. Tại khu vực Lăng Cha Cả do hậu quả của trận chiến khốc liệt ngày 30 chưa dọn quang nên giao thông còn nhiều lúc bị tắc, xe pháo phải từ từ nhích. Dù vậy hôm ấy tổ chúng tôi đã không phải chặn hỏi kiểm tra bất kì anh chàng nào lính mình. Quân ta toàn thắng, ào ạt tiến vào thành phố, hân hoan với hạnh phúc hòa bình, nhưng nghiêm túc, giữ vững kỉ luật. Hôm ấy kể cả bộ binh cũng hầu hết hành quân bằng cơ giới. Di chuyển chậm, thường xuyên phải dừng, nhưng không có nhiệm vụ không xuống xe. Chúng tôi không bắt gặp dọc phố một ai bận quân phục mà đi lẻ. Các đơn vị hành quân bộ cũng ít nhất là theo đội hình trung đội, và tuy vui vẻ tay bắt mặt mừng tiếp xúc với người dân nhưng vẫn hàng dọc tiến bước chứ không dừng tụ lại. Tất nhiên càng không có chuyện tụt tạt vào hàng vào quán và vào các nhà dân.

Thế nhưng, chính chúng tôi, tổ kiểm soát quân nhân lại đã buộc phải bước chân vào nhà người ta.

 

Khi đấy đã cuối chiều ngày 1 tháng 5. Nắng đã dịu nhưng trời vẫn nóng, đường Võ Tánh đặc sệt bụi và khói xăng. Một cậu chừng 13, 14, chạy tới kéo tay anh Bính, nói quả quyết là có ông lính còn giữ súng đang tử thủ trên lầu trong hẻm. Lúc đó gần đấy không thấy có tổ tuần tra nào khác. Bên đường, một dọc mấy chiếc PT76 đang dừng nổ máy tại chỗ nhưng lại chẳng có bộ binh bám trên thành xe. Ba chúng tôi đành tự thân. Cậu bé đưa đường chúng tôi đi đến cuối ngõ, chỉ vào một ngôi nhà hai tầng. Chúng tôi áp sát. Ngõ rộng, nhưng vắng lặng, biệt khỏi tiếng ồn ngoài lộ. Thú thực là tôi thấy chợn. Địch một tên thôi, theo lời cậu bé, nhưng mà hắn chốt trong nhà, liều chết. Chúng tôi tuy ba nhưng chỉ hai tiểu liên. Lại không lựu đạn. Với lại đã hòa bình rồi còn gì! Anh Bính thì cương quyết tổ mình phải dứt điểm ngay cái “thằng rồ này”, song cũng nhất trí là đã hòa bình rồi, nên anh bảo để chiêu hàng cái đã. Nhưng anh chưa “chiêu”, trong nhà đã “hàng”. Mà không phải thằng. Giọng đàn bà, từ sau cánh cửa đóng kín, vọng tiếng ra “xin nộp súng”. Anh Bính cho phép. Từ từ, cửa mở. Trong nhà đẩy sệt qua ngưỡng cửa ra thềm một khẩu súng ngắn. Còn không? – Dạ, hết rồi – Ra! Theo lệnh, người đàn bà bước thật chậm ra hiên, hai tay đưa cao trên đầu. Trông rất buồn cười, nhưng tất nhiên là chẳng ai cười. Anh Bính bước tới thu lấy khẩu ổ xoay và bảo chị ta hạ tay xuống. Chị ta thưa súng này của chồng, ảnh đang đau, bệt trên lầu, không thể xuống để tự mình nộp súng đầu hàng quý ông. Chị ta mếu máo, cam đoan trong nhà chỉ có hai vợ chồng với sắp nhỏ bốn đứa chớ không ai khác nữa. Gạt nhẹ chị ta sang bên, chúng tôi xô rộng cửa, ập vào thật nhanh, chiếm giữ tầng dưới. Tầng trệt (trong Nam gọi vậy), gồm một phòng khách, một căn bếp, một buồng tắm, đều tối và nóng. Điện bị ngắt, cửa rả kín mít, nên cầu thang và tầng gác cũng vậy, tối om, bí rì. Chúng tôi thận trọng hườm súng, lục soát. Tầng gác có ba phòng. Ở hai phòng đầu, giường chiếu bề bộn nhưng không người. Buồng tắm cũng không có ai. Gia chủ “tử thủ” trong căn phòng còn lại. Một căn phòng nóng ngột thở, sáng lên đùng đục dưới ánh nến. Im ắng. Người đàn bà chạy lên gác sau chúng tôi, đã thôi khóc, đứng nép vào ngưỡng cửa. Tay chồng ở trần, đầu với một bên vai quấn băng, nửa nằm nửa ngồi dựa lưng vào thành giường, và như thể bắt chước hành động khi nãy của vợ, anh ta lẩy bẩy đưa cánh tay còn cựa được lên cao trên đầu, ra ý xin hàng; bốn đứa con, im thít, đứng quây bên giường như là để che chắn cho bố.

Đó, lần đầu, thời khắc đầu tiên chúng tôi đặt chân vào một ngôi nhà, một căn phòng ở Sài Gòn, cảnh tượng là như vậy.

Huy kéo rèm, đẩy cửa chớp ra. Ngay lúc ấy cũng vừa khi công binh nối lại được dòng điện. Chiếc  quạt trần phập phập quay, tỏa một luồng gió mạnh làm tắt nến, trước cả khi khí trời bên ngoài kịp ùa vào. Tôi nhoài tay bật công tắc. Đèn neon kêu lạch tạch rồi bừng sáng. Mấy đứa nhỏ không kìm được òa lên reo.

Mặc dù tới rạng sáng ngày 30 đường điện mới bị đứt, nhưng gia đình này thì đã phải náu trong bóng tối từ khuya ngày 28. Tay chủ nhà là nhân viên của cảnh sát thuộc quận 5, (cảnh sát công lộ thôi – anh ta phều phào khai thế), nửa đêm, vẫn vận cảnh phục với súng dắt hông, bỏ nhiệm sở chạy xe máy về với vợ con, anh ta liều mạng lao vượt qua barie của Biệt cách dù chặn chỗ ngã tư Bảy Hiền, bị đạn bắn rượt theo rách má toác vai, vỡ lốp, phải vứt xe chạy bộ, may mà gần nhà nên ôm đầu máu nhào về được. Tắt hết đèn, bưng kín cửa, cả nhà câm nín bất động vậy là đã gần bốn ngày đêm. Cả khi quân dù cố thủ khắp trong khu vực đã tháo chạy và tiếng súng tấn công của Quân Giải phóng đã ngưng, trong bóng tối chết ngốt, vợ chồng con cái vẫn không dám hó hé đụng cựa. Cho tới khi, qua khe cửa, chị vợ nhìn thấy chúng tôi trước nhà. Cho tới khi đấy, chỉ cầm cự với một ít thuốc trụ sinh, anh chồng đã sốt rất cao và bắt đầu những cơn sảng. Do quá trời sợ hãi, hoang mang mù mịt, mà chậm chút nữa anh ta chết chắc, cho dù đã hòa bình được một ngày đêm rồi.

Tôi ra đầu ngõ chặn một cái xe lam, điều nó tới trước cửa nhà của viên cảnh sát. Anh ta được dìu xuống, rồi cùng vợ lên xe cấp tốc chạy đến nhà thương Vì Dân không xa đấy. Lũ trẻ với đứa lớn nhất chừng 12 tuổi ở lại giữ nhà. Chúng đóng chặt cửa ra vào, nhưng mở toang các cửa sổ. Và ở trên ban công tầng hai, một lá cờ Giải phóng giấu sẵn trong nhà từ bao giờ, bọn trẻ đã đưa ra cắm, lật phật bay trong gió cùng cả loạt những lá cờ xanh đỏ sao vàng khác lúc ấy đã rợp khắp trong ngõ ngoài phố. 

     

Màu hoa trắng trong nắng chiều tha thiết

Nhà văn Lê Hà Ngân

Màu hoa trắng trong nắng chiều tha thiết

LÊ HÀ NGÂN

NVTPHCM- Trong ánh sáng rực rỡ đầu hè, một sắc trắng tinh khôi, mỏng manh vươn lên trong nắng, làm cho bao nhiêu người đi qua phải ngoái lại. Màu hoa trắng như trong một cánh rừng hư ảo. Hương thơm ngào ngạt thanh tao mà quyến rũ đến ngỡ ngàng. Có kẻ vội vàng khoác áo trắng kiêu sa định đua đòi với sắc trắng của hoa, rồi lại bẽn lẽn cười trong khoảng nắng mơ hồ. Loài hoa trắng nở dọc bờ ao, lung linh bóng trên mặt nước. Ta cảm thấy trời tháng năm như đang chín, những cánh trắng vào lúc mãn khai nhất, khi nắng tươi nhất, chín nhất.

Hoa gặp nắng như nắng gặp hoa. Một sự giao hòa cởi mở viên mãn tới mức thật khó tìm một ngôn từ nào diễn tả cho cái tràn đầy tươi mới ấy. Bước qua khoảnh khắc diệu ảo này, nếu một người đang u uẩn đi qua khoảng nắng đầy hoa ấy sẽ giật mình thảng thốt khựng lại như đang hồi xanh, thấy cuộc đời tươi sáng đang mỉm cười với mình. Hoa Dành Dành không thuộc loài hoa tứ quý. Người ta thường biết đến Dành Dành qua màu sắc của một thứ xôi hay một thứ bánh vì quả có màu đẹp. Lá mọc đối hay mọc vòng ba, có hình trái xoan hay bầu dục dài, nhẵn bóng. Lá kèm mềm ôm lấy cành như bẹ lá. Hoa mọc đơn độc ở đầu cành, màu trắng rất thơm. Cuống có sáu cánh, hình của cánh thật dễ thương. Quả thuôn bầu dục có nhiều rãnh dọc như cánh màu vàng cam. Trong chứa nhiều hạt dính nhau thành một khối. Quên thế nào được giậu Dành Dành lung linh bóng nước bên bờ ao nhà ông ngoại mỗi độ trưa về. Hương thơm dịu dàng lan tỏa trên mái tóc thề ngày ấy. Thế mà sau bao năm cách xa nay lại ngơ ngẩn trước sắc trắng của Dành Dành. Nhìn hoa Dành Dành lại nhớ tới những quả Kha Tử người ấy gửi cho mình mỗi độ đông về để trong tiếng mỗi giờ lên lớp. Bao lần nghe người ta giải thích quả Kha Tử chính là quả Dành Dành sấy khô dành cho những ai phải nói nhiều bị mất tiếng.

Hoa Dành Dành được nhiều người ưa thích không phải chỉ hương thơm mà còn có rất nhiều công dụng. Lá thu quanh năm, rễ rửa sạch thái lát phơi khô để dùng dần. Quả thu hái khi gần chín, ngắt bỏ cuống đem phơi hay sấy nhẹ đến khô. Nếu bóc vỏ trước sẽ được một vị thuốc có tên là Chi tử nhân, giống như cái chén đựng rượu của vua chúa ngày xưa. Vị thuốc được dùng với tên gọi Chi tử có vị đắng, tính lạnh, có tác dụng thanh nhiệt, lợi tiểu, chỉ huyết, mát huyết, tiêu viêm. Thường được dùng chữa viêm gan, nhiễm trùng, vàng da, ngoại cảm phát sốt, mất ngủ… Lá cũng có thể dùng tươi giã đắp đau mắt đỏ.

Người ta lấy hoa cam để chưng cất nước hoa trong thơ Nguyễn Bính để rồi mỉm cười “hai đứa nhìn nhau thơm đấy nhỉ”. Còn loài hoa trắng nở dọc bờ ao này cũng được dùng trong kỹ nghệ hương liệu và nước hoa (mùi thơm jasmine). Nhưng điều kì diệu hơn là sức sống của loài hoa. Nghĩ tới lại tủm tỉm cười khi nhớ tới chuyện đầu năm đi chợ hoa mua lộc của cậu bạn cùng trường. Lòng trai thanh tân như hoa nở, chạy ào xuống cổng trường với một cây trà rực đỏ nụ xinh. Chị ơi hoa của em mua đẹp không? Mọi người xúm vào bình phẩm: Hoa trà, lá như lá mộc, gốc gì ấy nhỉ? Thật khó đoán định. Thôi thì đành quay đi chẳng biết nói gì.

Chị bạn nhanh nhẩu trồng xuống vườn trường. Bận bịu và lãng quên khi một sáng chớm hè thấy cây hoa trà nở hoa trắng muốt, thơm dịu dàng đích thị Dành Dành. Nụ đỏ dính keo tàn đi, lá mộc rụng xuống và gốc Dành Dành bật lá trổ hoa. Không khoe sắc giữa muôn hoa tưng bừng trong một vườn lộng lẫy, cũng không chơm chớm yêu kiều đón sương giữa ban mai, mà thật kỳ lạ, giữa cái nắng giòn cong của xứ biển giữa trưa muộn, bao nhiêu cánh trắng, bao nhiêu phiêu linh cứ kéo về, tưng bừng và tề tựu trên từng cành nhỏ, mảnh khảnh, như muốn bay, như muốn vươn lên, trước cái bao la nhưng giản đơn của trời đất. Có lẽ hoa đang ở độ thơm nhất, tươi nhất, không dùng dằng, không e lệ, tự nhiên khoe cái tinh khôi của mình, cái thanh thoát của mình với bao la mây trời. Hoa trắng hay áo trắng, hoa trắng hay mây trắng. Thật khó mà đoán định.

Màu hoa trắng trong nắng chiều tha thiết như đang thoát sinh. Bay lên tươi mới.

 

CÙNG TÁC GIẢ:

 

      

 

Văn Công Hùng – Nghĩ vui về ong và mật

 Nhà thơ Văn Công Hùng

Nghĩ vui về ong và mật…

VĂN CÔNG HÙNG

NVTPHCM- Những cái đang viết, nói, hiểu về Tây Nguyên giờ vẫn còn nhiều cái đúng nhưng cũng nhiều cái chưa chính xác. Có những cái sai do nhận thức, do suy diễn, do sự hiểu biết có hạn, nhưng cũng có những cái sai do mặc định, do thói quen.

Ví dụ, cứ nói tới tháng 3 Tây Nguyên là người ta lại nói “Tháng 3 mùa con ong đi lấy mật”.

Hình như có gì đấy sai sai theo cách nói bây giờ?

 

Đấy là một câu trong bài hát “Tháng ba Tây Nguyên” của nhạc sĩ Văn Thắng, phổ thơ Thân Như Thơ. Bài hát một thời cực kỳ nổi tiếng, cứ nhắc tới Tây Nguyên là người ta nhắc tới nó và nhắc tới nó thì người ta nhớ “mùa con ong đi lấy mật”.

Nhưng hóa ra có mấy điểm bị “mặc định”.

Thứ nhất là ong không đi lấy mật, mà nó đi lấy phấn hoa về làm mật. Nếu ong đi lấy mật được rồi thì nó còn làm mật làm gì nữa? Từ phấn hoa thành mật là một chu trình tuyệt vời của loài ong để loài người phải xuýt xoa kinh ngạc, về khả năng… chế biến thực phẩm, khả năng kiến trúc (làm tổ, nghe nói các kiến trúc sư học bò ra để… bắt chước ong xây tổ).

Và như thế thì tất cả các mùa có hoa nở thì ong đều đi lấy phấn hoa chứ không chỉ tháng 3.

 

Ai chịu khó tìm hiểu thì biết, khí hậu Tây Nguyên chia làm 2 mùa rất rõ rệt, chỉ 2 mùa thôi, là mùa khô và mùa mưa. Mùa khô thường từ tháng 10 năm trước tới tháng 3 năm sau. Và, cũng là một điều hết sức dễ hiểu, chỉ mùa khô thì hoa mới nở được, dù nó khá khô khát, còn mùa mưa thì chịu. Loài hoa mà ong lấy về và làm mật ngon nhất, quý nhất là hoa cây sâm Ngọc Linh. Nó chỉ có ở đỉnh Ngọc Linh quanh năm mây phủ. Giờ đã rất hiếm loại này bởi sâm Ngọc Linh giờ cũng cực hiếm. Hoa trắng là thứ cũng được ong ưa chuộng và nghe nói mật thứ hoa này cũng tốt. Nó là một loài cây có bông hoa trắng nở đầy thảo nguyên, lá cây hăng và hơi giống cây cộng sản, người ta hay dùng để cầm máu và chữa đau bụng.

Người Tây Nguyên bản địa không nuôi ong, mà họ đi lấy ong rừng. Gọi bắt ong cũng không đúng, vì ong không bị bắt. Họ đi lấy mật ở các tổ ong trong rừng, bằng cách đuổi ong đi, rất nhẹ nhàng. Và ong sẽ đi làm tổ ở nơi khác. Thường khi vào rẫy, vào rừng, họ gặp các tổ ong trên cây. Ai gặp đầu tiên thì tức là của người ấy. Chỉ cần đánh dấu lại bằng những ký hiệu thô sơ, báo rằng đã có người thấy nó rồi, là tổ ong ấy không bị ai lấy nữa. Đợi đến khi tổ ong ấy đầy mật thì người phát hiện ra đầu tiên đến lấy. Rất nhẹ nhàng, họ leo lên dùng khói xua ong. Leo cây là sở trường của người Tây Nguyên. Mới đây nhất, tôi chứng kiến 2 người đàn ông Jrai được một bà chủ quán mì Quảng ở đường Nguyễn Du (TP. Pleiku) thuê lấy tổ ong trên cái cây trước cửa quán. Họ làm rất gọn ghẽ, nửa tiếng là xong, dù cái cây rất cao và tổ ong bằng cái thúng trên tận ngọn cây. Giờ thì có áo mưa hoặc màn trùm người, chứ ngày xưa họ chỉ có cái khố, mà có khi cũng… tụt luôn ra cho dễ leo, thế mà chả làm sao. Mỗi ngày họ leo và lấy hàng chục tổ mật như thế, đựng vào những quả bầu khô, mang về cất dùng dần.

Giờ thì mật ong rừng rất hiếm bởi nhiều lý do. Một là… rừng đang mất dần. Rừng hết thì hoa rừng cũng không còn, thậm chí chỗ cho ong làm tổ cũng chả có. Thứ 2, thấy tổ nào, dù mới nhu nhú, dù mới có vài giọt mật, thì cũng lo mà lấy, bởi mọi sự đánh dấu công nhận sở hữu giờ đây đều vô nghĩa khi mà ngay cửa nhà khóa mấy lớp cũng vẫn bị mất tài sản. Thế nên mật ong rừng nếu có, cũng là mật non; chưa kể, rất nhiều mật ong rừng mà… không phải rừng, được bán tràn lan, không biết đường nào mà lần.

Chỉ người Kinh mới biết nuôi ong lấy mật. Thực ra thì mật ong đều tốt. Tuy thế mật ong rừng thì chất lượng tốt hơn. Dân dùng mật giờ chỉ thích mua mật ong rừng và đặt những người ở “gần rừng” mua loại mật ong hảo hạng này. Chính vì tâm lý ấy nên tôi đã từng thấy những người dân Tây Nguyên gùi mật ong rừng đi bán, nhưng lại là… ong nuôi, họ lấy của những người Kinh nuôi ong thả.

Nói thêm về bài hát. Theo nhạc sĩ Nguyễn Thụy Kha thì nhạc sĩ Văn Thắng chả lấy một chữ nào trong bài thơ “Tháng ba Tây Nguyên” của nhà thơ Thân Như Thơ cả, mà ông lấy ý, lấy hồn trong cả chùm thơ của Thân Như Thơ. Thế nhưng ông vẫn rất trân trọng ghi rõ từ đầu và cho đến giờ là “nhạc Văn Thắng, thơ Thân Như Thơ”. Một sự trung thực và tôn trọng nhau đáng nể.

Và bài hát ấy vẫn hay, vẫn đúng, chỉ có điều người dẫn lại và mặc định “Tháng 3 mùa con ong đi lấy mật” là hình như lại chưa chuẩn…

   

Khi có một người đi khỏi thế gian

Nhà thơ Nguyễn Quang Thiều

Khi có một người đi khỏi thế gian

NGUYỄN QUANG THIỀU

NVTPHCM- Có thể là buổi sáng khi chúng ta đang uống cà phê, có thể là một buổi chiều khi chúng ta đang trở về ngôi nhà của mình, và có thể một buổi tối khi chúng ta đang ngủ… chúng ta bỗng nhận được tin nhắn hoặc một cuộc gọi thông báo về một người bạn vừa rời bỏ thế gian. Hoặc trong suốt thời gian thức của mình, chúng ta luôn luôn nghe hoặc đọc những lời cáo phó trên đài truyền thanh, trên báo và trên tivi.

Những lúc đó, tôi thường có một khoảnh khắc sống trong im lặng và toàn bộ thế gian mênh mông hiện ra trước mắt. Trên thế gian mênh mông ấy, có một người quay lại nhìn tôi rồi lặng lẽ ra đi vĩnh viễn. Có thể tôi khóc lặng lẽ, có thể tôi thấy một cái gì đó như sự hư vô ùa qua mình, có thể là một ý nghĩ mới về đời sống, có thể là một nỗi tiếc nuối mơ hồ nhưng dai dẳng, có thể là sự thức dậy của ký ức về người đó, có thể là một câu hỏi vô nghĩa nhưng hình như không còn cách khác: “ Vì sao người ấy lại ra đi?”. Và có thể nó lại là sự an ủi cho người vừa mất và cả người còn sống.

Quả thực, trong cách nghĩ thô thiển của mình, tôi luôn luôn bị ức chế bởi thế gian này quá chật chội. Chật đến nỗi cả trong giấc ngủ cũng thấy mình ở trong chen chúc, nồng nặc mùi mồ hôi kẻ lạ và bị vây bủa bởi ngàn vạn con mắt ngờ vực, soi xét. Nhưng khi biết có một người vừa rời khỏi thế gian, kể cả đó là người không hề có bất cứ mối quan hệ nào với mình thì mình cũng cảm thấy thế gian bị bắn thủng và để lại một lỗ hổng.

Nhưng trùm phủ lên tất cả những gì tôi vừa nói trên là một lời nhắc nhở của ai đó. Lời nhắc nhở đó cụ thể là: “Ngươi hãy xem lại cuộc sống của ngươi”. Với cá nhân mình, tôi thường được nghe lời nhắc nhở đó. Chính thế, tôi nghĩ về sự ra đi khỏi thế gian này của con người là lời nhắc nhở của Tạo hóa đối với chúng ta. Hầu hết con người sống trên thế gian này, trong đó có cá nhân tôi, rất hay quên mình phải sống như thế nào với người bên cạnh.

Có lần, một người bạn tôi đặt một câu hỏi nghe có vẻ rất “ngớ ngẩn”: “Tại sao chúng ta không sống với người đang sống như sống với người đã chết?”. Hình như câu hỏi này có điểm nào đó bất hợp lý nhưng tôi chưa biết bất hợp lý ở điểm nào. Nhưng nó có lý ở phía lý tưởng sống của con người. Đó là sự chia sẻ, cảm thông, hiểu biết, nhường nhịn, công bằng và thiện chí. Điểm hợp lý này đã trở thành cái đích của xã hội loài người mà con người trong suốt chiều dài lịch sử của mình luôn luôn tâm niệm và tìm cách đi tới.

Trong thâm tâm chúng ta ai cũng có lần suy ngẫm lại hành xử của mình đối với một đồng nghiệp, một người bạn hay một người thân khi người đó rời bỏ thế gian ra đi mãi mãi. Chúng ta nghĩ nếu người đó sống lại chúng ta sẽ không bao giờ hành xử thiếu thiện chí, bất công, ngờ vực, đố kỵ, thiếu chia sẻ, dửng dưng… với người đó như một đôi lần khi người đó còn sống. Chính thế mà ở một phía ý nghĩa của cái chết, tôi nghĩ rằng: việc thi thoảng có một người đi khỏi thế gian là một cách Tạo hóa nhắc nhở sự quên lãng những ý nghĩa nhân văn trong đời sống của con người. Vậy tại sao khi người đó còn sống ở bên cạnh chúng ta trong gia đình, trong công sở, trong làng xóm hay trong khu phố thì chúng ta lại cảm thấy khó chịu, thấy ngờ vực và đôi khi căm ghét?

Một trong những nguyên nhân cơ bản làm cho chúng ta quên lãng những phẩm chất tốt đẹp vẫn luôn luôn trú ngụ trong con người chúng ta là tính sở hữu dục vọng của mình. Chúng ta muốn sở hữu danh tiếng, sở hữu công việc, sở hữu một vị trí, sở hữu trí tuệ, sở hữu sự sáng tạo cho đến sở hữu một chiếc xe, một chỗ ngồi, một lối đi trước nhà mình, thậm chí sở hữu cả một cái bàn ăn trong một tiệm ăn. Nhưng thế gian lại không chỉ có một mình chúng ta. Thế là chúng ta tìm nhiều cách chống lại những người khác mà chúng ta cho rằng người đó là nguy cơ chiếm mất những gì chúng ta thèm khát sở hữu như một sự độc quyền.

Có rất nhiều người khi ra đi khỏi thế gian này thì mới được người còn sống tin rằng anh ấy hay chị ấy là một người tốt. Cũng chỉ vì đến lúc đó chúng ta mới “thở phào” nhẹ nhõm rằng những nguy cơ cướp mất sự sở hữu của chúng ta không còn nữa. Nhiều lúc, chúng ta giống một con gà mái nuôi con xù lông tấn công một con trâu đi qua với ý nghĩ con trâu sẽ ăn thịt đàn con của nó. Nhưng con trâu chỉ biết ăn cỏ và nó không ăn thịt gà chấm muối chanh bao giờ. Nhưng con gà mái không tin chuyện đó. Có lẽ nó bị hình bóng những con cáo hay những con mèo ám ảnh.

Không ít những người đã và đang nghĩ rằng: cái chết là một điều gì đó khác với những gì chúng ta vẫn suy nghĩ lâu nay. Có người nghĩ rằng: đời sống chúng ta đang sống là một cánh đồng. Còn cái chết là một cánh đồng bên cạnh mà chúng ta chưa hề biết. Vậy khi chúng ta đã sống một cách trung thực và không ân hận với đời sống hiện tại thì khi ra đi khỏi đời sống này chúng ta sẽ thanh thản. Chúng ta chưa có ân huệ gặp lại một người trở về từ cánh đồng bên cạnh (sau cái chết) kể cho chúng ta về đời sống ở nơi chốn đó như một người đã đến thăm những khu phố cổ ở Stockhome trở về và kể lại. Ngay sau đó, chúng ta có ước muốn đến thăm những khu phố cổ ấy. Nếu khi chúng ta nghĩ và tin sau cái chết là một cánh đồng sự sống khác thì chúng ta sẽ bớt đi lòng tham và sự ích kỷ của chúng ta.

Có một hiện thực luôn luôn hiện ra trước chúng ta toàn bộ sự thật của nó là cái chết. Và trước sự ra đi khỏi thế gian này của đồng nghiệp, bạn bè và những người thân, quả thực chúng ta có những giờ phút sống chân thực. Và những phẩm tính tốt đẹp trú ngụ trong bóng tối dục vọng của chúng ta thức dậy và tỏa sáng. Nhưng rồi chúng ta lại quên ngay những điều kỳ diệu đó. Thế là, chúng ta lại hành xử với một người còn sống khác bên cạnh chúng ta với toàn bộ sai lầm mà chúng ta đã mắc phải với người đã ra đi trước đó. Bởi thế, cái chết, một quy luật tất yếu của thời gian đối với con người, có chứa đựng một lời nhắc nhở những người còn sống hãy sống tốt hơn như con người có thể.

(Rút từ cuốn Có một kẻ rời bỏ thành phố, Nxb Hội Nhà văn 2012)

       

Biết Tạc Đâu Ra Em Của Anh?

Bài thơ Biết Tạc Đâu Ra Em Của Anh? (Xuân Diệu), tác giả viết về thương nhớ một cô gái. Mở đầu bài thơ là cuộc chia ly, em đi vào lối cỏ, anh nhìn theo dáng nhỏ bước xa dần, sự quen thuộc của chàng trai và hiểu cô gái. Sự ra đi của cô gái khiến chàng trai bàng hoàng, và biết tạc đâu ra một người như thế.

Biết Tạc Đâu Ra Em Của Anh? (Xuân Diệu)

Đôi ta dừng. Em đi vào lối cỏ
Anh nhìn theo dáng nhỏ bước xa dần
Anh thuộc tay em, anh thuộc bàn chân
Em như từ trong anh bước ra đường cái…

Anh thuộc mắt em, anh thuộc tóc em
Anh như vỏ mà em là ruột quả
Ôi một trái luôn chia làm hai nửa
Mỗi lúc em về rồi lại đi

Đó là một sớm mai cách đây tuần lễ
Hình em đi – anh bỗng nghĩ bàng hoàng:
Nếu ngày nào em hết ở cùng anh
Nếu đến khi anh không còn em nữa.

Anh biết tạc đâu ra một người như thế,
Anh ấp iu mang mẻ làm sao
Anh biết lấy đâu ra, anh biết lấy đâu vào
Anh biết mượn đất trời sao cho được?

Anh lấy thịt xương đâu chứa đầy mộng ước
Anh lấy gì biến hoá để thành em?
Anh bóp vụn ngày, anh xé nát đêm
Anh vá víu những người trên trái đất

Người ta có thể vô cùng xinh đẹp
Có thể thông minh, có thể rạng ngời,
Có thể yêu anh đi nữa, em ơi!
Anh không thể kiếm tìm em đâu cả!

Đó là một sớm mai cách đây tuần lễ
Dáng em đi – in mai mãi bóng hình
Nếu ngày em chẳng cùng anh nữa
Biết tạc đâu ra em của anh?

Ở Ngoài Vạn Lý

Bài thơ Ở Ngoài Vạn Lý (Xuân Diệu), tác giả viết về sự xa cách và thương nhớ. Mở đầu bài thơ là thương nhớ vạn lý, tấm lòng vàng ngọc nhớ nhà, nhớ nước liên hồi nhớ em. Bài thơ còn thể hiện sự nhớ thương khi trong chiêm bao nhớ thương dập dồn.

Ở Ngoài Vạn Lý (Xuân Diệu)

Ở ngoài vạn lý thương em,
Anh đi vạn lý nhìn xem chân trời!
Tấm thân vàng ngọc xa vời,
Nhớ nhà, nhớ nước, liên hồi nhớ em.
Hai tuần đã nhói trong tim
Những chiêm bao mặt lại chiêm bao hồn;
Chiêm bao nhớ dập thương dồn,
Nửa đêm vạn lý hãy còn tìm nhau
Ứơc chi đôi phút qua mau
Thấy em một chút đỡ sầu cách xa
Một phần trái đất bao la
Hai hôm cất cánh đã qua muôn trùng.
Thư nhà anh vẫn đợi trông
Chữ tay em viết, sóng lòng em trao
Canh khuya thương nhớ khát khao
Em ơi, vạn lý lòng hao đêm dài…

Đoạn thơ cuối còn là sự thương nhớ khát khao, mong đợi thư nhà. Bạn có cảm nhận gì về bài thơ này, để lại đóng góp của bạn ngay dưới đây nhé.